Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải sát thực tế nhiều đặc thù của vùng dân tộc, miền núi

 16/09/2009
Trong những năm đổi mới vừa qua, trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đã có nhiều thành tựu quan trọng. Góp phần vào những thành tựu đó là các chính sách phát triển mà Đảng và Nhà nước ta đã ban hành trên các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, trong đó có các chính sách cụ thể trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.

Các chính sách, có thể hiểu, bao gồm cả những chương trình, dự án phát triển và đem lại lợi ích cho cả vùng và những chính sách cụ thể cho các hộ gia đình, cá nhân được hưởng lợi trực tiếp; Chính sách nhà nước đối với các dân tộc thiểu số thể hiện ở việc tăng mức đầu tư cho các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số và việc hỗ trợ cụ thể bằng tiền, hiện vật hay hướng dẫn về kỹ thuật canh tác, cách thức làm ăn cho các cá nhân, hộ gia đình là người dân tộc thiểu số, hoặc bằng việc giảm các đóng góp của họ đối với nhà nước..

Trong thời gian qua, trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, nhiều chính sách đã được ban hành phù hợp với những điều kiện phát triển của miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và đã góp phần phát triển kinh tế xã hội của vùng này, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

2- Những chính sách cụ thể trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đã góp phần phát triển nông thôn miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số:

a. Phát triển nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản): đã có các chính sách khuyến khích đưa giống mới vào sản xuất, chính sách hỗ trợ khai hoang, đầu tư phát triển thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương..

Cùng với những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp và các chính sách của Đảng và nhà nước, nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có những phát triển kinh tế vượt bậc, tăng nhanh tổng sản lượng lương thực, giảm hẳn việc phát nương làm rẫy, nhiều vùng đã có kinh tế hàng hóa phát triển.

b. Bảo vệ và phát triển rừng: Đã rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng, thực hiện việc giao đất giao rừng, thực hiện dự án “trồng mới 5 triệu ha rừng” ở các địa bàn miền núi, dân tộc, khoán trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; đã có các chính sách về hỗ trợ trồng rừng sản xuất, hỗ trợ cây giống, hỗ trợ lương thực cho việc chuyển canh tác nương rẫy sang bảo vệ và phát triển rừng.
Với việc rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng và đổi mới các quy chế quản lý rừng trong thời gian vừa qua, đối tượng sản xuất là rừng đã được mở rộng hơn, đã tăng diện tích rừng và đất lâm nghiệp được quy hoạch là rừng sản xuất; Việc trồng rừng sản xuất trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số gần đây đã phát triển khá mạnh.

c. Các chính sách về khuyến nông, khuyến lâm:

Hoạt động khuyến nông nói chung đã góp phần quan trọng vào việc phát triển nông nghiệp nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Nhiều địa phương vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn đã được bố trí cán bộ khuyến nông đến xã, thôn bản.

Trong thời gian tới sẽ tiếp tục tăng cường đội ngũ khuyến nông viên cơ sở với trình độ cao, có kiến thức tổng hợp cả về các kiến thức xã hội và các kiến thức về khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; đồng thời tăng cường đội ngũ cộng tác viên cơ sở là người già, người có uy tín, người có kinh nghiệm trong việc nuôi trồng các cây con có giá trị kinh tế cao, cây con đặc sản của vùng nhằm phát triển vùng nguyên liệu, tạo sản phẩm hàng hoá cho vùng, góp phần xoá đói giảm nghèo, từng bước xây dựng vùng giàu mạnh.
d, Các chính sách về di dân, tái định cư; các dự án phát triển kinh tế vùng biên giới Việt Trung, Việt Lào:

Theo đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các Bộ ngành có liên quan, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 39/2004/CT-TTg ngày 12/11/2004 về “một số chủ trương, giải pháp tiếp tục giải quyết tình trạng dân di cư tự do”; Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg ngày 24/8/2006 “phê duyệt Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo tồn nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2015”; Quyết định số 78/2008/QĐ-TTg ngày 10/8/2008 “phê duyệt một số chính sách thực hiện Chương trình bố trí dân cư”; Quyết định số 60/2005/QĐ-TTg ngày 24/3/2005 “phê duyệt quy hoạch ổn định dân cư các xã biên giới Việt-Trung”; Quyết định số 49/2008/QĐ-TTg ngày 22/4/2008 “phê duyệt quy hoạch ổn định dân cư các xã biên giới Việt-Lào vùng trung du miền núi Bắc bộ đến 2015”.

Thực hiện các Quyết định trên, từ năm 2006-2008 ngân sách Trung ương đầu tư cho Chương trình bố trí dân cư 2.011 tỷ đồng. Thực hiện việc ổn định 89.414 hộ gồm 57.725 hộ vùng sạt lở đất, lũ quét, lũ ống; 14.637 hộ vùng đặc biệt khó khăn; 7.860 hộ vùng biên giới; 8.578 hộ di cư tự do; 674 hộ từ ở vùng rừng; kết quả này đã góp phần quan trọng giảm nhẹ thiệt hại từ thiên tai, hạn chế di cư tự do, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào, trong đó phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Trong quá trình thực hiện, ở mỗi vùng, miền có một địa hình và mỗi dân tộc có đặc thù riêng, nên công tác bố trí dân cư của mỗi vùng đều có khó khăn thuận lợi nên trong quá trình thực hiện đều có các giải pháp, chính sách phù hợp cho sự phát triển và đời sống của đồng bào dân tộc từng vùng; đặc biệt là bố trí định cư cho đồng bào dân tộc vùng biên giới và ổn định đồng bào di cư tự do.

Tuy nhiên, nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ mới đáp ứng 52,9% nhu cầu, riêng các dự án ổn định dân di cư tự do mới đáp ứng 9,4% vốn đầu tư duyệt cho các dự án nên tiến độ xây dựng các khu định cư còn chậm, một số dự án đồng bào đã đến song còn thiếu các công trình kết cấu hạ tầng, đời sống chưa ổn định bền vững. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ cho các hộ gia đình tuy đã được điều chỉnh, bổ sung song do những biến động về giá nên vẫn còn thấp so với yêu cầu thực tế. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc bố trí, sắp xếp lại dân cư phải gắn với đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất; đồng thời phòng tránh lũ quét, lũ ống, sạt lở đất là rất cần thiết ưu tiên bố trí nguồn vốn hỗ trợ và tập trung chỉ đạo thực hiện.

Đối với những vùng đồng bào dân tộc hiện đang sinh sống không thể có điều kiện đầu tư thì vận động bà con đến định cư ở vùng mới với phương châm “vùng mới phải tốt hơn vùng cũ”, giúp cho bà con sớm ổn định đời sống và sản xuất, hoà nhập với cộng đồng, từng bước thu hẹp khoảng cách với vùng xuôi. Hiện nay, Bộ đang tiếp tục trình Chính phủ các Đề án sắp xếp dân cư vùng biên giới Việt - Lào (phần còn lại), Việt - Căm Pu Chia,

3- Những bất cập:

- Miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có rất nhiều khác biệt với miền xuôi, nhiều chính sách áp dụng chung đã tỏ ra không phù hợp hoặc hiệu quả thấp đối với miền núi, vùng đông bào dân tộc, giữa các vùng đồng bào dân tộc thiểu số khác nhau...

Một số ví dụ cụ thể:

+ Trong các chính sách về cấp giống mới, trong các chương trình khuyến nông, tại nhiều địa phương, trong nhiều vùng dân tộc thiểu số, việc phải có một số đối ứng của các hộ gia đình và cá nhân là không phù hợp; Trong chương trình hỗ trợ 61 huyện nghèo gần đây (trong NQ 30a/CP) đã áp dụng cơ chế cấp không (mà không kèm theo đối ứng) một số mặt hàng vật tư, giống cây con.

+ Trong quyết định 661 về thực hiện dự án “trồng mới 5 triệu ha rừng”, nhà nước quy định khoán bảo vệ rừng đến hộ gia đình; Thực tế tại nhiều địa phương, nhất là những vùng đồng bào dân tộc ít người ở Tây Nguyên đồng bào thường phải cùng tổ chức bảo vệ, không tách ra theo từng hộ gia đình. Gần đây theo quyết định 100/TTg sửa đổi quyết định 661/TTg, Thủ tướng Chính phủ đã quy định mở rộng khoán bảo vệ rừng cho các tổ chức (bao gồm cả cộng đồng dân cư thôn) và các hộ gia đình.

+ Quyết định 135/TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngay cả giai đoạn II, quy định một mức đầu tư chung cho 1 xã là 500 triệu, 800 triệu đồng; Thực tế địa bàn các xã rất khác nhau, xuất phát điểm về hạ tầng cơ sở của các xã, dù là các xã đặc biệt khó khăn, cũng rất khác nhau, vì vậy cùng một mức đầu tư, việc vượt qua khó khăn với từng xã là rất khác nhau.

- Cùng với thời gian, nhiều chính sách được ban hành đã lâu và đã không còn phù hợp với những biến động về giá cả thị trường hiện nay, rất cần được sửa đổi, bổ sung mới có thể đáp ứng yêu cầu đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ví dụ như, chính sách Trợ giá, trợ cước theo Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31/3/1998 của Chính phủ về phát triển thương mại miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc và Nghị định số 20/2002/NĐ-CP ngày 03/01/2002 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 20/1998/NĐ-CP đã không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Vì vậy cần phải có chính sách mới hỗ trợ trực tiếp đời sống và sản xuất cho người nghèo ở vùng khó khăn cho phù hợp.

- Các cộng đồng dân tộc thiểu số khác nhau tại nhiều vùng miền núi, dân tộc khác nhau có trình độ phát triển rất khác nhau, các chính sách chung cho miền núi, cho đồng bào dân tộc thiểu số thường rất ít phát huy hiệu quả đối với một số cộng đồng dân tộc thiểu số.

Thường thì đối với một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải có những chính sách đặc thù riêng, thậm chí là “cầm tay chỉ việc” đối với một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

- Cơ chế quản lý về tài chính thống nhất từ Trung ương như hiện nay cũng thường gây khó khăn trong việc vận dụng tại các địa phương; Các địa phương đã không thể có những quy định khác cho phù hợp với từng vùng có đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều khó khăn.

- Sản xuất nông nghiệp nói chung ở miền núi, trong những vùng đồng bào dân tộc, nhiều đặc thù trong các phương thức canh tác của các cộng đồng dân tộc thiểu số nói chung còn ít được đầu tư nghiên cứu, nhiều biện pháp kỹ thuật thâm canh trong nông nghiệp, các cách thức sản xuất theo cơ chế thị trường, kinh tế trạng trại đang ít được áp dụng có hiệu quả trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.

4- Những kiến nghị:

- Các cơ quan chức năng của nhà nước cần tăng cường năng lực nhận biết về những khác biệt, những đặc thù giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số, tham gia xây dựng những cơ chế chính sách phù hợp với từng nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số.

- Cân nhắc việc đưa yếu tố cộng đồng dân tộc thiểu số thỏa đáng trong việc phân loại vùng đặc biệt khó khăn để có những chính sách phù hợp.

- Tăng cường phân cấp việc xây dựng, kể cả việc quyết định cơ chế chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số cho từng địa phương, kể cả đến cấp huyện (nếu có Hội đồng nhân dân).

- Rất nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống hiện nay thường là vùng sâu, vùng xa, có địa hình chia cắt phức tạp, có nhiều rừng; với khả năng đầu tư như hiện nay, vùng này sẽ còn nhiều khó khăn trong phát triển. Tuy nhiên đây là những vùng còn rất nhiều tiềm năng, nếu không quản lý tốt về phát triển dân số, nhất là giữa các cộng đồng dân tộc trong vùng, việc phát triển kinh tế sau này cũng rất dễ phát sinh những xung đột về mặt xã hội, một vấn đề rất cần được cơ quan có trách nhiệm của Đảng và Nhà nước nghiên cứu nghiêm túc.

Hứa Đức Nhị
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Bỏ bình quân cần nhiều chính sách đặc thù trong xây dựng (09/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 64,260,720


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs