Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Một số vấn đề chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới

 14/10/2009

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc. Trong suốt quá trình lịch sử, các dân tộc Việt Nam luôn gắn bó với nhau trong các cuộc đấu tranh sinh tồn, chống lại thách thức khắc nghiệt của thiên nhiên, giặc ngoại xâm, tươơng trợ giúp nhau cùng đi lên trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Nhận thức được sức mạnh to lớn của đoàn kết các dân tộc ở nước ta, ngay từ khi mới ra đời, chính sách dân tộc và đại đoàn kết dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và thực hiện chính sách dân tộc phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng của cả nước.

Bước vào giai đoạn phát triển đất nước, thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (1986), với tinh thần đổi mới, chính sách dân tộc thời kỳ này đã từng bước thay đổi tập trung phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước. Điều đó được thể hiện qua hai văn bản quan trọng: Nghị quyết 22/NQ-TW ngày 27/1/1989 của Bộ Chính trị “Về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi” và Quyết định 72/QĐ-HĐBT ngày 13/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng “Về một số chủ trương chính sách cụ thể phát triển kinh tế-xã hội miền núi”. Từ đó nhiều chủ trương, chính sách lớn đã được đề ra. Ngoài hệ thống chính sách chung cho cả nước, khu vực dân tộc thiểu số được ưu tiên thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc thù và luôn được điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với mỗi một giai đoạn phát triển.

I. Tổng quan về Chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới:


Nghị quyết 22/NQ-TW về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi là cơ sở cho sự ra đời và thực hiện của các Chỉ thị nhằm tăng cường thực hiện các chính sách phát triển đối với từng vùng dân tộc: Chỉ thị 117 - CT/TW, Chỉ thị số 68 - CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường công tác đối với vùng đồng bào Khmer Nam bộ; Chỉ thị số 121 - CT/TW của Ban Bí thư về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Chăm; Chỉ thị số 65/HĐBT về giải quyết một số vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội với các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc…

Cùng với các Chỉ thị, những chính sách, chương trình, dự án đầu tư, phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi được thực hiện đảm bảo phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội.

1. Nhóm chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế theo vùng:

Nhóm chính sách này được thể chế qua 33 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Lần đầu tiên các xã vùng dân tộc và miền núi được đầu tư trên cơ sở thực trạng trình độ phát triển kinh tế xác định theo tiêu chí 3 khu vực miền núi, vùng cao: Đây là bước tiến quan trọng trong thực hiện chính sách dân tộc đồng thời còn mang tính khoa học trong nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực hiện chính sách. Trong nhóm chính sách này, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chương trình Xây dựng Trung tâm cụm xã; Chương trình Định canh định cư được xây dựng và thực hiện là những chương trình đầu tư phát triển lớn khẳng định việc xác định mục tiêu, nội dung đầu tư và cách thức thực hiện phù hợp đã thể hiện sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc và người dân vùng miền núi nhằm thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo để miền núi tiến kịp miền xuôi.

2. Nhóm chính sách phát triển kinh tế-xã hội theo ngành, lĩnh vực được thể chế trong 38 quyết định, trong đó:

2.1. Nhóm chính sách quy định nội dung thực hiện trên các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, công nghiệp, tín dụng, hỗ trợ phát triển sản xuất, định canh định cư được thể chế trong 14 Quyết định, tập trung vào phát triển nông, lâm ngư nghiệp, khuyến nông, lâm, chuyển giao khoa học công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và người dân vùng miền núi. Tín dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách khác, khuyến nông, khuyến lâm, trồng và khoán bảo vệ rừng, định canh định cư;

2.2. Nhóm chính sách giáo dục và đào tạo (theo thống kê của Giáo dục và Đào tạo) được thể chế trong 5 Quyết định tập trung cho các nội dung như chính sách ưu đãi đối với cán bộ quản lý và nhà giáo công tác ở vùng dân tộc; chính sách ưu đãi đối với học sinh dân tộc thiểu số; chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị giáo dục; chính sách đối với trường phổ thông dân tộc nội trú; chính sách cử tuyển và dự bị đại học dân tộc…

2.3. Chính sách về y tế thực hiện chăm sóc sức khoẻ cho đồng dân tộc và người dân vùng miền núi, cấp thẻ bảo hiểm y tế, phát triển hệ thống y tế thôn bản, y tế dự phòng vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

2.4. Chính sách về văn hoá được thể hiện qua 10 quyết định, thực hiện các nội dung: Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hoá, chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá, thiết chế văn hoá ở cơ sở đến năm 2010...

2.5. Chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được thể hiện qua 8 Quyết định, trong đó tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, chính sách ưu đãi cho cán bộ về công tác tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

3. Chính sách đặc thù đối với một số dân tộc thiểu số:

Ngoài những chính sách đầu tư, hỗ trợ theo vùng, các chính sách, dự án hỗ trợ phát triển một số dân tộc có số dân dưới 1000 người bao gồm 5 dân tộc (Si La, Pu Péo, Ơ Đu, Brâu, Rơmăm) cũng được thực hiện. Đây là nhóm chính sách đặc thù cho 5 dân tộc đặc biệt khó khăn để các dân tộc này thoát khỏi nguy cơ đói nghèo và lạc hậu.

II. Về kết quả thực hiện chính sách dân tộc


Với việc ưu tiên nguồn lực đầu tư được thực hiện thông qua các chính sách, chương trình, dự án đã góp phần thay đổi căn bản bộ mặt các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, người dân được chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, giáo dục đào tạo được cải thiện và nâng cao; trình độ năng lực cán bộ xã, thôn bản từng bước được nâng lên, năng lực sản xuất của đồng bào đã từng bước có chuyển biến tích cực. Tỉ lệ nghèo giảm xuống chỉ còn 13,08% vào năm 2008. Các chỉ tiêu phi thu nhập, tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản và hạ tầng cơ sở (giáo dục, y tế, điện, đường, nước sạch và vệ sinh môi trường) cũng khẳng định xu hướng cải thiện đáng kể.

- Kết quả thực hiện Chương trình 135 cho thấy bước đầu đã hỗ trợ nhiều hộ nghèo, người nghèo có cơ hội tiếp cận kiến thức sản xuất mới, hỗ trợ trực tiếp giống, vật tư, công cụ sản xuất, thông tin thị trường... Những hoạt động hỗ trợ này có tác động rõ rệt, bước đầu tạo sự chuyển biến về nhận thức và tập quán sản xuất của đồng bào theo hướng sản xuất hàng hóa, thay đổi phương pháp làm ăn có hiệu quả hơn, qua đó nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo. Các mục tiêu về xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu đã được thực hiện, góp phần đưa tỷ lệ xã có đường giao thông cho xe cơ giới từ trung tâm xã đến thôn, bản lên 66%/mục tiêu của Chương trình là 80% (đường cấp phối nhưng không đi được quanh năm); xã có công trình thủy lợi nhỏ bảo đảm năng lực phục vụ sản xuất lên 61% (mục tiêu Chương trình 80%); xã có đủ trường, lớp học kiên cố lên 80%; xã có điện 85%; xã có trạm y tế kiên cố đạt 98%....

- Các chính sách hỗ trợ phát triển sinh kế, tập huấn, đào tạo thực hiện ở vùng dân tộc và miền núi đã từng bước nâng cao năng lực quản lý, thực hiện Chương trình của đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn bản; có nhiều tác động tích cực đến qua trình tổ chức, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

- Nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào. Công tác giáo dục, đã được phát triển rộng rãi khắp nơi ở vùng dân tộc thiểu số. Các địa phương đều đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và nhiều địa phương đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Kết quả đó đã góp phần quan trọng, rất có ý nghĩa cho việc nâng cao dân trí, góp phần tạo nguồn nhân lực thông qua đào tạo cán bộ và dạy nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số. Tuy nhiên chất lượng giáo dục ở vùng này nói chung là còn thấp, điều kiện cho thầy cô giáo và các em học sinh còn nhiều khó khăn.

- Về chăm sóc sức khoẻ đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, mạng lưới y tế đã được phát triển rộng khắp đến tất cả các xã. Do đó hầu hết đồng bào các dân tộc kể cả vùng sâu vùng xa đều được tiếp cận được dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Đã cơ bản khống chế được dịch bệnh ở vùng dân tộc như: sốt rét, bướu cổ cho đồng bào các dân tộc. Tuy nhiên, chất lượng chăm sóc sức khoẻ ở đây còn hạn chế, cán bộ y tế, trang thiết bị còn thiếu thốn.

- Truyền thông: Phát thanh đã phủ sóng trên 90% và 70% người có thể nghe được đài. Truyền hình phủ sóng trên 70%, có nơi đạt 90% như đối với đồng bào Khmer ở Nam Bộ, Chăm ở miền Trung và một số nơi thuận lợi ở Tây Nguyên. Kết quả đó đã giúp cho đồng bào được tiếp cận và hưởng thụ thông tin, văn hoá. Phát thanh và truyền hình đều đã có chương trình bằng tiếng dân tộc thiểu số, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, số người không biết tiếng phổ thông cũng được hưởng thụ thông tin…

- Bảo tồn và phát triển văn hóa: Những giá trị của bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, trên tất cả các loại hình đều đã được các cơ quan chức năng chú ý quan tâm và đồng bào các dân tộc hưởng ứng nên ngày càng được khai thác để bảo tồn bằng nhiều hình thức. Đã tổ chức nhiều hội diễn ở nhiều vùng miền và chuyên một số dân tộc như Khmer, Hoa, Mông, Mường, Hát then vùng Tày - Nùng, Cồng chiêng Tây Nguyên… góp phần phát huy, tôn vinh văn hoá của các dân tộc. Văn hoá Việt Nam ngày càng được thể hiện rõ nét là một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng mang đậm đà bản sắc dân tộc. Do đó khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố và tăng cường hơn.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số: Trong những năm qua, chúng ta đã quan tâm xây dựng hình thành một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số về số lượng và chất lượng, có phẩm chất và năng lực để đảm đương nhiệm vụ được giao. Nhiều tỉnh, huyện tuy về chất lượng cán bộ còn khác nhau, nhưng về số lượng cán bộ dân tộc thiếu số đã gần hoặc tiến dần đến tương đương với tỷ lệ của dân tộc thiểu số địa phương đó như: Cao Bằng, Lạng Sơn số lượng cán bộ công chức trong toàn tỉnh là người dân tộc thiểu số đã chiếm trên 80%, hầu hết cán bộ lãnh đạo của địa phương là người dân tộc thiểu số tại chỗ. Tuy nhiên, trên phạm vi cả nước, số lượng cán bộ dân tộc thiểu số còn có sự chênh lệch giữa các dân tộc.

Hệ thống chính trị ở cơ sở đã được xây dựng, củng cố trong sạch vững mạnh hơn bao giờ hết, hầu hết các xã đều đã có Đảng bộ, thôn có chi bộ, thôn nào cũng đã có Đảng viên, năng lực của cán bộ cơ sở đã được nâng lên rõ rệt, một số địa phương đã phổ cập trung học và đại học.

- Quốc phòng, an ninh ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố tăng cường thông qua những thành quả về kinh tế đời sống, văn hóa và sự quan tâm đặc biệt của địa phương. Quốc phòng toàn dân và phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc do lực lượng vũ trang làm nòng cốt ngày càng phát triển, khối đại đoàn kết dân tộc được giữ vững.

III. Một số kiến nghị về chính sách dân tộc trong thời gian tới:

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng sẽ làm cho đất nước nói chung và đồng bào các dân tộc nói riêng đứng trước nhiều vận hội và thách thức trong phát triển kinh tế-xã hội. Vùng dân tộc thiểu số và miền núi có cơ hội đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế thị trường, đồng bào các dân tộc có điều kiện thuận lợi để hội nhập vào xu thế phát triển chung của quốc gia.

Bên cạnh những cơ hội, cộng đồng các dân tộc thiểu số nước ta trong bối cảnh hội nhập cũng đứng trước không ít thách thức. Với các lý do về lịch sử, địa lý, vùng dân tộc thiếu số Việt Nam chủ yếu là vùng sâu, vùng xa, không thuận lợi trong tiếp cận thị trường, khó cạnh tranh với các vùng khác trong hội nhập kinh tế. Các dân tộc thiểu số nước ta còn ở trình độ phát triển chưa cao và không đồng đều về kinh tế-xã hội; tỷ lệ đói nghèo cao, kinh tế tự cung tự cấp là chủ yếu, kinh tế hàng hoá chưa phát triển; phương thức canh tác lạc hậu. Về xã hội bên cạnh những tập quán tiến bộ giàu bản sắc văn hoá thì còn nhiều tập tục lạc hậu, lỗi thời.., cản trở không nhỏ đến phát triển và hội nhập nền kinh tế thị trường. Chất lượng nguồn nhân lực về: trí lực, thể lực và chuyên môn nghề nghiệp đươợc đào tạo… chưa đáp ứng nhu cầu kinh tế thị trường, bất cập so với nhu cầu phát triển của đất nước, vùng dân tộc và miền núi.

Hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội khu vực dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay là tương đối đầy đủ, toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hoá thông tin... Tuy nhiên, hệ thống chính sách dân tộc có nhiều nội dung chồng chéo, trùng lặp, trên một địa bàn cùng thực hiện nhiều chính sách với nhiều đầu mối quản lý. Có một số chính sách còn chưa phù hợp với đặc điểm vùng, đặc điểm dân tộc; một số chính sách thực hiện trong thời gian dài nặng về bao cấp tuy không còn phù hợp, nhưng chậm được tổng kết đánh giá, sửa đổi bổ sung đã chưa phát huy được nội lực, ý thức tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số…

Do vậy, trong thời gian tới để duy trì, phát huy những thành tựu giảm nghèo, các chính sách giảm nghèo cần đa dạng hơn, trong đó tập trung nhiều vào các nhóm dân cư dễ bị tổn thương và đồng bào dân tộc thiếu số. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng bối cảnh kinh tế mới.

Một số đề xuất, kiến nghị về chính sách dân tộc trong thời gian tới:

Các bộ, ngành theo chức năng nhiệm vụ được phân công tiến hành nghiên cứu sửa đổi bổ sung các chính sách trong lĩnh vực quản lý:

a. Rà soát hệ thống chính sách dân tộc đang được thực hiện trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi.

Những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo, rút ngắn dần khoảng cách chệnh lệch giữa các vùng giữa các dân tộc. Ngoài hệ thống chính sách chung cho cả nước, khu vực dân tộc thiểu số được ưu tiên thực hiện một số cơ chế chính sách đặc thù và luôn được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với mỗi một giai đoạn phát triển của vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhìn chung hệ thống chính sách dân tộc hiện nay khá đầy đủ và toàn diện trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đã tạo ra bước chuyển biến rõ rệt về phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi. Tuy vậy, qua thực tiễn triển khai cho thấy còn có một số nội dung chính sách trùng lặp và bất cập. Do vậy, việc rà soát hệ thống chính sách để đánh giá quá trình tổ chức thực hiện cũng như kết quả để có sự điều chỉnh cho phù hợp.

b. Nghiên cứu ban hành khung hệ thống chính sách đối với khu vực dân tộc thiểu số và miền núi cho từng giai đoạn, trước mắt là giai đoạn 2011-2020; xây dựng khung chính sách phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tổng thể của vùng và địa phương. Khung hệ thống chính sách sẽ là cơ sở để các bộ, ngành và địa phương xây dựng những chính sách cụ thể đầu tư phát triển theo ngành, lĩnh vực, chánh chồng chéo giữa các bộ, ngành cũng như Uỷ ban Dân tộc sẽ thực hiện tốt hơn vai trò quản lý, giám sát việc xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách thực hiện ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

c. Uỷ ban Dân tộc phối hợp với các bộ, ngành liên quan đẩy nhanh tiến độ xây dựng Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2011-2015 trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 6 năm 2010.

d. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2010-2020.

e. Cần có cơ chế, chính sách đặc thù đối với một số vùng dân tộc và một số dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn để giảm nghèo nhanh, góp phần bảo tồn, phát triển toàn diện các dân tộc thiểu số Việt Nam.

TS. Trần Văn Thuật
Vụ trưởng Vụ Chính sách Dân tộc-UBDT

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Đầu tư cho phát triển cộng đồng vùng dân tộc, miền núi cần chú ý đến tập quán, tâm lý của người dân (10/2009)
  •  
  • Cần một chiến lược phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc, miền núi làm cơ sở xây dựng các chính sách dân tộc (10/2009)
  •  
  • Tạp chí Dân tộc - Người bạn chỉ đường, người bạn đường thân thiết (09/2009)
  •  
  • Tôi đã đến với Tạp chí Dân tộc như thế (09/2009)
  •  
  • Đôi điều suy ngẫm từ Tạp chí Dân tộc (09/2009)
  •  
  • Dân tộc và Miền núi trình làng số đầu (09/2009)
  •  
  • 10 năm nhớ lại (09/2009)
  •  
  • Làm tốt vai trò cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế (09/2009)
  •  
  • Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải sát thực tế nhiều đặc thù của vùng dân tộc, miền núi (09/2009)
  •  
  • Bỏ bình quân cần nhiều chính sách đặc thù trong xây dựng (09/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 64,260,337


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs