Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Tàn phá rừng hôm nay, thảm họa ngày mai

 02/07/2009

Người dân hưởng ứng, tham gia lập kế hoạch nhận quản lý và bảo vệ rừng.

Giữ rừng đang là vấn đề hết sức nóng bỏng, đầy cam go đối với các tỉnh Tây Nguyên. Các địa phương vẫn còn đang loay hoay chưa tìm ra phương pháp hữu hiệu để quản lý và bảo vệ rừng. Mặc dù các cơ quan chức năng từ địa phương đến Trung ương đã đổ bao công sức, tiền bạc để phục vụ công tác bảo vệ rừng, nhưng rừng vẫn bị tàn phá ngày một nặng nề. Vậy đâu là nguyên nhân, những bất cập và kẽ hở trong công tác quản lý và bảo vệ rừng? Làm gì để giữ được rừng cho thế hệ mai sau?.

Kẽ hở của pháp luật trong công tác quản lý và bảo vệ rừng

Nghị định 159/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/10/2007 khi áp dụng vào thực tế chưa mang lại hiệu quả cao. Tại Điều 4 quy định phá rừng sau 1 năm thì không phải xử phạt mà chỉ khắc phục hậu quả là trồng lại rừng hoặc đền bù lại chi phí, nhưng chế tài để phải đền bù và ai bắt đối tượng đền bù thì chưa được đề cập. Tại Điều 11, Điều 18 quy định phá rừng làm rẫy, phá rừng trái phép “Dọn hiện trường để chuẩn bị đất canh tác sản xuất trên diện tích rừng vừa phá trái phép chỉ bị phạt tiền đến 5 triệu đồng, nếu người làm thêm chỉ bị phạt 2 triệu đồng...”. Việc xử lý theo các quy định trên là nguyên nhân làm cho các đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng “nhờn” pháp luật.

Một số chính sách được ban hành chưa phù hợp với tình hình thực tế ở các địa phương như: Việc chi trả kinh phí cho các hộ dân nhận khoán rừng rất thấp (từ 100 đến 200 nghìn đồng/ha/năm). Các hộ nhận khoán bảo vệ rừng chưa có chính sách hưởng lợi hợp lý theo lượng và độ che phủ tăng bình quân hằng năm của rừng, nên cuộc sống của người dân không đảm bảo, không làm tròn trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng.

Một nguyên nhân khác là các cấp chính quyền thiếu kiên quyết trong việc di dời các điểm dân cư tự phát nằm ngay giữa rừng, sau đó chính quyền dần dần hợp thức hoá thành các điểm dân cư hành chính cho họ, mặc dù các hộ dân cư đó đang lấn chiếm đất rừng do các công ty lâm nghiệp quản lý và sử dụng. Quyền hạn của các công ty lâm nghiệp là chủ rừng trong công tác quản lý bảo vệ rừng (CTQLBVR) hầu như không có, chỉ được phép ngăn chặn và báo cáo xin ý kiến, do đó hạn chế về nhiều mặt đối với CTQLBVR. Chưa coi trọng lực lượng quản lý và bảo vệ rừng của các công ty lâm nghiệp, cần có chế độ ưu đãi vì trên thực tế họ là lực lượng chính để giữ rừng. Ngoài ra, tại tỉnh Đăk Nông, tiền ưu đãi nghề nghiệp đối với Kiểm lâm chưa được thanh toán từ tháng 10/2004 đến 12/2006. Về tổ chức, biên chế lực lượng quản lý bảo vệ rừng chưa được sắp xếp ổn định, cho nên nguồn kinh phí chi trả tiền lương cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng chưa có như ở 2 khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung và Tà Đùng (Đăk Nông)...

Những đề xuất

Những quy định ở các văn bản dưới luật trong công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) không còn phù hợp với thực tế, từ đó lâm tặc lợi dụng kẽ hở tàn phá rừng thì cần phải thay đổi. Tăng thẩm quyền xử lý vi phạm cho các chủ rừng là các công ty lâm nghiệp. Cần có một chế độ ưu đãi tương xứng với những công sức của lực lượng QLBVR và Kiểm lâm... Chủ trương giao đất, giao rừng về địa phương, về cộng đồng của Nhà nước là đúng đắn; đặc biệt quản lý rừng cộng đồng đã được thừa nhận trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; tuy nhiên làm thế nào hỗ trợ cộng đồng lập kế hoạch quản lý rừng lâu dài và xác lập cơ chế lợi ích rõ ràng, minh bạch, công bằng, đơn giản là vấn đề cần được quan tâm giải quyết.

Trong thực tế sau khi giao đất giao rừng, chúng ta chưa có đầy đủ những hướng dẫn cụ thể liên quan đến cơ chế chính sách, tổ chức và kỹ thuật để thực hiện quản lý rừng cộng đồng. Vấn đề đang đặt ra nhiều thách thức là làm thế nào để người dân nghèo vùng cao có được lợi ích từ rừng và nó đóng góp vào sinh kế lâu dài cho cộng đồng quản lý rừng? Việc quản lý sử dụng và kinh doanh rừng tự nhiên khác hẳn với sử dụng đất nông nghiệp. Trong khi đất nông nghiệp thời gian thu hoạch ngắn hơn, kỹ thuật canh tác khá phổ biến, nông dân có thể bán ngay sản phẩm ra thị trường và có thu nhập nhanh. Còn các sản phẩm rừng không chỉ là lâm sản mà còn các giá trị dịch vụ môi trường, văn hoá xã hội khác, do đó việc sử dụng phải hài hoà, đồng thời kinh doanh cây rừng đòi hỏi thời gian rất dài mới có thu hoạch, kỹ thuật lâm sinh còn xa lạ với người dân. Đặc biệt lâm sản là một sản phẩm nhạy cảm, đòi hỏi phải có sự xác nhận tính hợp pháp của nó mới được lưu thông, buôn bán. Điều này có thể giải thích được vì sao sau khi giao đất giao rừng, người dân chưa được hưởng lợi nhiều từ rừng, rừng chưa trở thành một thành tố sinh kế với người dân làm rừng. Và như vậy nó đòi hỏi phải có những cơ chế chính sách, cách tiếp cận, hỗ trợ kỹ thuật thích hợp để mang lợi ích cho người dân và rừng được quản lý bền vững.

Tóm lại, đề xuất lập kế hoạch và thiết lập cơ chế hưởng lợi đối với quản lý rừng cộng đồng đi theo hướng tạo ra sự phù hợp đối với cả 2 bên: Cộng đồng quản lý rừng và cơ quan quản lý nhà nước về rừng; quyền hưởng lợi cần minh bạch, rõ ràng và đơn giản trong áp dụng và có thể thẩm định, giám sát được. Có như thế tài nguyên rừng của đất nước mới được bảo vệ cho muôn đời sau.

Nam Nguyên

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,284,645


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs