Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Thực hiện công tác dân tộc ở tỉnh Quảng Bình

 01/07/2009
Ở tỉnh Quảng Bình, dân tộc thiểu số có hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem... sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ.

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã tập trung từ nhiều nguồn kinh phí cùng với việc thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách dân tộc và sự nỗ lực cố gắng không ngừng vượt khó đi lên của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh đã tạo được những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc trong tỉnh.

Thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc, năm 2008, đối với Chương trình 134 là năm kết thúc của kế hoạch 4 năm (2005 -2008), tỉnh Quảng Bình được Nhà nước đầu tư 2.120 triệu đồng, bố trí thực hiện các hạng mục: Hỗ trợ xây dựng các công trình nước sinh hoạt tập trung cho 392 hộ 1.497 triệu đồng; hỗ trợ xây dựng bổ sung và hoàn thiện nhà ở cho 623 hộ với 623 triệu đồng.

 Tính đến hết năm 2008 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình còn 129/2.728 nhà chưa hoàn thành mục tiêu; Hỗ trợ đất sản xuất có 468,5 ha, đạt 85,3% kế hoạch giao trong 4 năm (2005-2008), có 27/27 công trình nước sinh hoạt tập trung được xây dựng, đã đưa vào sử dụng, 1.552 hộ được hỗ trợ nước phân tán. Phần còn lại được cụ thể bằng các giải pháp sau:

Đối với các huyện số nhà ở chưa hoàn thành của các hộ gia đình nghèo, chính sách, các huyện huy động các nguồn lực hỗ trợ thêm, đồng thời vận động các tổ chức giúp đỡ nhằm hoàn thành dứt điểm trước tháng 7/ 2009. Với công trình nước sinh hoạt tập trung cho đồng bào Rục, xã Thượng Hoá, huyện Minh Hoá đã hoàn thành thủ tục đầu tư nhưng chưa đủ vốn thi công (1.000/2.200 triệu đồng), huyện Minh Hoá dùng các nguồn vốn khác lồng ghép để đầu tư xây dựng hoàn thành công trình, trường hợp đặc biệt thì đề xuất đầu tư ở điểm khác có mức đầu tư trong giới hạn vốn kế hoạch giao. Về hỗ trợ đất sản xuất, các huyện chủ động tính toán nhu cầu đất sản xuất cho từng bản, từng xã, đồng thời phối hợp với các nông - lâm trường sau khi Uỷ ban nhân dân tỉnh có Quyết định điều chỉnh lại quỹ đất các nông lâm trường, tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc có đủ đất sản xuất.

Theo Quyết định 33/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Quảng Bình có 12 dự án định canh định cư tập trung cho 659 hộ và 139 hộ định canh định cư xen ghép. Đến nay, đã thực hiện được 6 dự án. Để hoàn thành kế hoạch giao, năm 2009, tỉnh Quảng Bình đã rà soát kỹ các đối tượng di dân thực hiện định canh định cư làm căn cứ thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ sản xuất, đời sống, kinh phí sự nghiệp để thực hiện khuyến nông khuyến lâm, y tế cho cả hai đối tượng định canh định cư tập trung và phân tán; thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động đồng bào thực hiện định canh định cư, tổ chức sản xuất và ổn định đời sống. Bên cạnh đó, hoàn thành việc phê duyệt các dự án thành phần để các đơn vị làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện và thanh toán vốn.

Trong năm 2008, nguồn vốn thực hiện chính sách trợ giá trợ cước được nhà nước đầu tư cho 2,755 tỷ đồng, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân các huyện trực tiếp quản lý và thanh quyết toán nguồn vốn trên. Do nguồn vốn ít, nên tập trung hỗ trợ các mặt hàng theo thứ tự ưu tiên: Cấp không thu tiền giấy vở học sinh tiểu học cho con em vùng đồng bào dân tộc thiểu số; cấp không thu tiền muối i ốt cho đồng bào các bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trợ giá giống cây trồng; xây dựng các trạm truyền thanh cho các xã khu vực III; trợ cước vận chuyển muối iốt; trợ cước vận chuyển phân bón các loại và giao cho Uỷ ban nhân dân huyện quyết định theo giá thị trường. Nhìn chung, các huyện đều cơ bản hoàn thành kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó, việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn theo Quyết định 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ đã phát huy tác dụng. Các chương trình, chính sách đã tác động đến nhận thức của đồng bào trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống làm thay đổi tập quán sản xuất, tăng thu nhập và vươn lên thoát nghèo.

Đối với Chương trình 135 giai đoạn II, năm 2008, tỉnh Quảng Bình được nhà nước đầu tư cho 34 xã và 51 thôn bản đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II với tổng số vốn là 51,962 tỷ đồng. Ban Dân tộc tỉnh Quảng Bình đã tham mưu cho Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình phân bổ cho các dự án trong Chương trình, cụ thể: Thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng là 34.850 triệu đồng. Dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất là 8,33 tỷ đồng. Dự án Đào tạo cán bộ xã, thôn, bản là 2,805 tỷ đồng...Các dự án trên về cơ bản đều triển khai thực hiện theo đúng tiến độ và kế hoạch đề ra. Tuy nhiên các cơ sở hạ tầng và kết quả thực hiện một số dự án chưa đáp ứng được yêu cầu. Năm 2009, Ban Dân tộc đã tham mưu cho tỉnh để gắn trách nhiệm của chủ đầu tư từ khâu chuẩn bị đầu tư đến xây dựng và quản lý khai thác sử dụng công trình cũng như huy động thật tốt công sức đóng góp của nhân dân, nơi trực tiếp hưởng lợi công trình. Tỉnh chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các huyện xem xét năng lực của các xã để phân cấp thêm cho xã làm chủ đầu tư. Với các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đội ngũ cán bộ cấp xã có trình độ và năng lực còn hạn chế, huyện vẫn làm chủ đầu tư, đồng thời tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ cấp xã để năm 2010 giao chủ đầu tư. Trong quá trình thực hiện Uỷ ban nhân dân các huyện có trách nhiệm chỉ đạo và tạo điều kiện giúp các xã làm chủ đầu tư thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các dự án thành phần, quản lý chặt chẽ nguồn vốn đảm bảo không để thất thoát. Về Ban quản lý dự án, đối với các xã làm chủ đầu tư, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình áp dụng quy định về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản chung trên địa bàn cho Chương trình 135, cụ thể: Đối với công trình có mức vốn đầu tư trên 500 triệu đồng, các chủ đầu tư phải hợp đồng tư vấn quản lý dự án.

Huy động sự đóng góp của nhân dân đối với các công trình người dân có thể tham gia được như giao thông nông thôn, kênh mương thuỷ lợi, chủ đầu tư phải tạo điều kiện để người dân tham gia, đóng góp. Nội dung này được thực tế hoá thông qua việc khuyến khích, ưu tiên chỉ định các đơn vị thi công có sử dụng nhân lực, vật liệu của địa phương.

Một nội dung rất quan trọng trong việc thực hiện Chương trình 135 trong năm 2009 và các năm tiếp theo là chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã, bản về văn hoá, lý luận chính trị, chuyên môn, quản lý nhà nước, hành chính, an ninh, quốc phòng để chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, dự án trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn; có quy hoạch đào tạo cán bộ là con em các dân tộc sinh sống trên địa bàn. Ban Dân tộc - cơ quan Thường trực Chương trình 135 của tỉnh, phối hợp với các ngành, địa phương tổ chức soạn thảo các tài liệu, đào tạo, tập huấn có tính đặc thù trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức tập huấn cho các xã, bản đặc biệt khó khăn.

Để thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2009, và thực hiện tốt các giải pháp trên, tỉnh Quảng Bình xin đề nghị Trung ương bổ sung thêm nguồn vốn cho Chương trình 135, nhất là đối với dự án phát triển sản xuất. Trong đó cần có sự ưu tiên cho vốn duy tu, bảo dưỡng, công tác truyền thông... Đồng thời điều chỉnh cơ cấu vốn dự án phát triển sản xuất theo Quyết định 1445/QĐ-TTg theo tinh thần tăng vốn sự nghiệp, giảm vốn đầu tư phát triển; Đề nghị Uỷ ban Dân tộc phát hành giáo trình đào tạo cán bộ xã, bản thuộc Chương trình 135 giai đoạn II để tỉnh sử dụng vào công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã, bản và cộng đồng theo quy định của Uỷ ban Dân tộc; Nghiên cứu trình Chính phủ có dự án bảo tồn và phát triển các tộc người thuộc dân tộc Chứt (Mày, A rem, Mã Liềng) để nhanh chóng đưa các tộc người này thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn. Thực hiện Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ Quy định các cơ quan chuyên môn cấp huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh, phòng dân tộc ở các huyện được sát nhập vào Văn phòng Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân. Từ đó, công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc, cũng như việc triển khai, tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách ở vùng đồng bào dân tộc rất khó khăn, nhất là công tác quản lý, chế độ thông tin, báo cáo, nắm bắt tình hình vùng đồng bào dân tộc thiếu kịp thời... Vì vậy, đề nghị các Bộ ngành Trung ương nghiên cứu trình Chính phủ xem xét lại việc sát nhập bộ máy làm công tác dân tộc cấp huyện vào Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện.

Nhân Hòa

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,904,912


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs