Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Tái định cư các công trình thuỷ điện thuỷ lợi tại các tỉnh miền trung Tây Nguyên những vấn đề đặt ra

 01/07/2009
Vừa qua, Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội đã thực hiện giám sát công tác di dân, tái định cư tại tỉnh Nghệ An, Kon Tum, Quảng Nam và Phú Yên nhằm: Đánh giá tình hình thực hiện di dân, tái định cư công trình thuỷ điện để từ đó kiến nghị tiếp tục thực hiện tốt hơn công tác di dân, tái định cư.

Diện tích tự nhiên của tỉnh Nghệ An, Quảng Nam, Kon Tum và Phú Yên là 43.926,7 km2, với dân số hơn 6 triệu người (dân tộc thiểu số chiếm gần 25%); 3/4 diện tích là đồi núi với nhiều sông, suối nên theo quy hoạch của ngành điện và các địa phương, trên địa bàn có thể xây dựng gần 300 công trình thủy điện lớn, nhỏ và đến nay đã có 24 công trình thủy điện được xây dựng. Công tác di dân tỉnh Nghệ An, Quảng Nam, Kon Tum và Phú Yên tại các công trình Thủy điện Bản Vẽ, Thủy lợi Sông Sào (tỉnh Nghệ An); Thủy điện Đăk Mi 4, Sông Tranh 2, A Vương, Thủy lợi Đông Tiển (tỉnh Quảng Nam); Thủy điện Plei Krông (tỉnh Kon Tum) và Thủy điện Sông Ba Hạ (tỉnh Phú Yên) có ảnh hưởng nhiều tới sản xuất và đời sống của đồng bào.

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng các công trình, các địa phương đã quy hoạch, xây dựng 66 khu, điểm tái định cư tập trung, tại 42 xã của 13 huyện để tiếp nhận 5.796 hộ, với 28.068 khẩu (trong đó các dân tộc thiểu số có 2.064 hộ, 10.114 khẩu, chiếm 35,64%). Đến ngày 31/12/2008 các tỉnh đã di chuyển được 4.241 hộ (đạt 79,8%), 20.012 khẩu (dân tộc thiểu số có 1.694 hộ, 8.074 khẩu). Chính sách hỗ trợ các hộ tái định cư đã được thực hiện như sau: Bồi thường về đất ở cho 5.985 hộ, với diện tích 2.443.477 m2; bồi thường về đất sản xuất cho 9.460 hộ, với diện tích 15.064 ha; bồi thường về tài sản cho 11.503 hộ; bồi thường 10 công trình phúc lợi công cộng, phục vụ cho sản xuất và đời sống của đồng bào. Đến 31/12/2008 đã có 46/66 điểm tái định cư hoàn thành việc xây dựng và tổ chức tiếp nhận 4.241 hộ dân đến tái định cư; bố trí 3.723.150 m2 đất ở (từ 400 đến 1.400 m2/hộ); xây dựng 244,8 km đường giao thông, 586 cầu cống các loại, 7 công trình thủy lợi, tưới cho 78.2 ha lúa nước; xây dựng 23 công trình nước sinh hoạt, phục vụ cấp nước cho 1.621 hộ, làm 47 công trình điện, 42 trường học, với 164 lớp học, 35 công trình phụ trợ; 03 công trình y tế; xây dựng mới 47 nhà sinh hoạt cộng đồng, 965 công trình khác phục vụ cho cộng đồng. Đã quy hoạch 751,2 ha đất sản xuất để hỗ trợ từ 1 đến 1,5 ha/hộ; ngoài ra, từ thực tế ở các địa phương và khu vực tái định cư, các hộ dân còn được giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi và mặt nước nuôi trồng thủy sản; đồng thời được hỗ trợ cây, con giống, vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và hướng dẫn kỹ thuật để phát triển sản xuất. Sau khi kiểm tra các điều kiện tối thiểu bảo đảm cuộc sống của người dân Ban quản lý dự án hợp đồng với đơn vị vận chuyển tổ chức di chuyển tập trung hoặc Ban quản lý dự án hỗ trợ kinh phí để các hộ tự di chuyển. Các hộ được hỗ trợ lương thực, y tế, giáo dục, điện sinh hoạt, di chuyển nhà, phát triển sản xuất; đến nay có 4.241/5.796 hộ đã thực hiện (đạt 73,8%). Kinh phí hỗ trợ di chuyển trong xã 1 triệu đồng, di chuyển ngoài xã nhưng cùng huyện 2 triệu đồng, di chuyển ngoài huyện 5 triệu đồng, di chuyển nơi thờ tự, mồ mả 1 triệu đồng/hộ.

Về hỗ trợ làm nhà ở, đến nay đã có 3.627/4.241 căn nhà được xây dựng xong, theo định mức xây dựng: hộ có từ 1 đến 2 khẩu, được 25 m2/khẩu; từ 3 đến 5 khẩu, được 10m2/khẩu; hộ từ 6 khẩu trở lên được 9 m2/khẩu, mỗi căn nhà có diện tích từ 40 - 80 m2.

Hỗ trợ về đời sống các hộ di chuyển đến nơi ở mới được hỗ trợ lương thực từ 15 - 30 kg/tháng/khẩu trong thời gian 6 đến 12 tháng; hỗ trợ về y tế với mức 100.000 đồng/hộ; hỗ trợ về giáo dục, mỗi học sinh phổ thông các cấp được cấp một bộ sách giáo khoa theo giá quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; hỗ trợ tiền điện thắp sáng trong 3 tháng đến 1 năm, với mức 10.000 đồng/người/tháng. Đồng thời các dự án thủy điện, thủy lợi ở Nghệ An, Phú Yên và Quảng Nam đã có phương án hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho số dân phải di chuyển đến nơi ở mới.

Từ kết quả giám sát, Hội đồng Dân tộc có những đánh giá tổng quát như sau:

Công tác di dân, tái định cư đã có sự phối hợp giữa địa phương với các chủ đầu tư trong việc tuyên truyền, vận động, thông báo về chủ trương xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện đến cán bộ và nhân dân trên địa bàn. Các chính sách cơ bản đã được công khai rộng rãi, thông qua việc tuyên truyền và phổ biến tại cơ sở, nhờ đó, đa số người dân đồng tình ủng hộ chủ trương xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi và chấp nhận đến tái định cư ở nơi mới.

Công tác kiểm kê, đền bù, giải phóng mặt bằng, được các địa phương điều tra, lên danh sách, thống kê đối tượng, áp giá tài sản của nhân dân và cộng đồng để lập hồ sơ bồi thường, chi trả tiền đền bù tương đối kịp thời, đúng chế độ đảm bảo quyền lợi cho người dân và đáp ứng được tiến độ để xây dựng công trình.

Công tác quy hoạch, xây dựng các điểm tái định cư về cơ bản đã tuân theo các văn bản hướng dẫn của các cấp có thẩm quyền và phù hợp với tình hình thực tế và gắn với sự phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương. Tại các khu, điểm tái định cư mới đã được đầu tư xây dựng san lấp mặt bằng, thủy lợi, cấp nước sinh hoạt, làm đường giao thông, trường học, công trình điện, nhà văn hóa cộng đồng tương đối đồng bộ, bước đầu đáp ứng được nhu cầu của nhân dân. Nhà ở của một số dự án tái định cư được quy hoạch dọc các tuyến đường giao thông, một số nơi gần khu dân cư cũ nên thuận tiện cho việc đi lại và sản xuất của đồng bào (như ở điểm tái định cư buôn Suối Mây, TT Hai Riêng, huyện Sông Hinh và buôn Xây Dựng, xã Suối Trai, huyện Sơn Hòa, Phú Yên); hoặc được xây dựng trong các khu tái định cư có đường giao thông, nước sinh hoạt, trường học (như các điểm tái định cư ở Thanh Chương, Nghệ An). Việc lựa chọn mẫu nhà ở, các công trình công cộng đã có sự tham khảo ý kiến của đại diện người dân, thông qua già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng. Việc tổ chức di chuyển các hộ dân từ nơi ở cũ đến điểm tái định cư được các địa phương và chủ đầu tư thực hiện an toàn về tính mạng, tài sản của nhân dân. Công tác hỗ trợ di chuyển thực hiện theo chính sách quy định và việc hỗ trợ di chuyển công trình văn hóa, mồ mả, nơi thờ tự; hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm ở một số nơi được thực hiện khá tốt, giúp đồng bào có điều kiện ổn định, yên tâm sống tại nơi ở mới.

Về tồn tại, hạn chế:

Cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương chậm được hình thành, giúp Chính phủ quản lý nhà nước về di dân, tái định cư (năm 2007 Chính phủ mới giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). ở địa phương chưa có quy định cụ thể cho một cơ quan giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về công tác di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi. Trong tổ chức chỉ đạo thực hiện còn lúng túng, trách nhiệm chưa thật rõ như: Cơ chế quản lý trước và sau khi tái định cư chưa thống nhất giữa cơ quan nhà nước và Ban quản lý công trình, nên khi xử lý các vấn đề phát sinh còn vướng mắc và chậm được khắc phục. Các dự án di dân tái định cư đều do Tập đoàn điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư và chịu trách nhiệm về kinh phí nên cơ chế quản lý và phối hợp giữa Uỷ ban nhân dân các tỉnh với Ban quản lý dự án không rõ và chưa chặt chẽ do vậy khi có những vấn đề phát sinh không rõ trách nhiệm của bên nào.

Trong quá trình thực hiện Chính phủ và các Bộ lại có các quyết định riêng cho từng công trình, dự án, mỗi dự án có mức đầu tư cho di dân, tái định cư khác nhau. Thủy điện Bản Vẽ, mức 282 triệu đồng/hộ; Thủy điện Plei krông, mức 726 triệu đồng/hộ; Thủy điện Sông Tranh2, mức 576 triệu đồng/hộ; Thủy điện Sông Ba Hạ, mức 461 triệu đồng/hộ… làm nảy sinh tư tưởng so sánh quyền lợi trong nhân dân; chính sách chậm được điều chỉnh sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế (như tiền hỗ trợ vận chuyển đều bình quân 5 triệu đồng/hộ mà không tính đến thực tế xa gần, khó, dễ - như ở Nghệ An; chính sách hỗ trợ lương thực bằng tiền trong 12 tháng là không phù hợp với thực tế). Việc thực hiện các chính sách trong thực tế ở các địa phương còn bất cập, một số dự án thực hiện đền bù đất đai, nhà cửa, hỗ trợ tái định cư mang tính chất bình quân, chính sách hỗ trợ làm nhà ở chưa khuyến khích các hộ tham gia vào công việc xây dựng nhà cho chính mình (chủ đầu tư hợp đồng xây dựng xong, bàn giao cho hộ tái định cư), nhiều điểm tái định cư chưa tạo công ăn việc làm gắn với thu nhập cho người dân.

Công tác quy hoạch và thẩm định tại một số khu tái định cư chưa chặt chẽ, chưa đảm bảo các yếu tố toàn diện về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, chưa phù hợp với phong tục tập quán của các dân tộc thiểu... nên khi tổ chức di dân tái định cư về nơi ở mới thiếu tính ổn định, phát triển bền vững. Có nơi còn áp đặt, chưa bàn kỹ với người dân nên khi xây dựng xong điểm tái định cư, dân không chấp nhận về ở nên hiệu quả đầu tư đạt thấp (điển hình là khu tái định cư Buôn Chao, xã Ea Bá, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, dự kiến tiếp nhận 76 hộ dân, đã đầu tư 10 tỷ đồng nhưng dân không đến ở, dẫn đến phải làm lại quy hoạch ở nơi khác; 23 hộ dân ở xã Thanh Hương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An chưa nhận nhà do nơi ở mới khó khăn về điều kiện sống, thiếu nước sinh hoạt, đất sản xuất thiếu và xấu, chất lượng nhà ở chưa cao...). Một số khu, điểm tái định cư xây dựng ngay trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rất khó khăn trong việc tạo quỹ đất sản xuất cho người dân, vì vậy khả năng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng bị xâm hại là khó tránh khỏi.

Về giải quyết đất ở, đất sản xuất chưa tốt; chưa thực hiện được nguyên tắc đất đổi đất theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP, do hầu hết các hộ dân ở vùng dân tộc thiểu số và nông thôn miền núi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận sở hữu nhà nên căn cứ đền bù rất khó khăn. Việc này gây thắc mắc trong các hộ dân ở Nghệ An, Kon Tum, Phú Yên… Hầu hết các dự án đều chưa bố trí đủ đất sản xuất cho dân theo quy hoạch do công tác khảo sát ban đầu chưa chính xác, một số dự án bố trí diện tích bình quân 1ha/hộ là quá thấp; đất xấu, phần lớn là đất dốc, nên dân không nhận, hoặc nhận nhưng không sử dụng được như ở thủy điện Bản Vẽ, Pleikrông… .

Công tác hỗ trợ sản xuất và khuyến nông - khuyến lâm chưa kịp thời và nội dung hình thức chưa phù hợp với trình độ sản xuất của đồng bào nên đồng bào lại quay về nơi ở cũ để canh tác lấy lương thực, thực phẩm sinh sống trong thời kỳ chưa bị ngập nước, gây khó khăn trong công tác quản lý dân cư (23/46 hộ ở Khe ò, Nghệ An).

Thời gian thực hiện di dân, tái định cư kéo dài, chậm hơn so với kế hoạch (Nghệ An gần 2 năm; Kon Tum gần 1 năm, Phú Yên gần 1 năm) nên có nhiều phát sinh, nhất là các vấn đề tăng hộ, tăng khẩu và trượt giá, có nơi liên quan đến phong tục, tập quán tín ngưỡng của đồng bào. Tiến độ triển khai xây dựng các công trình phúc lợi công cộng tại các khu, điểm tái định cư, nhất là các công trình trường học, trạm xá, nhà văn hóa…tiến hành chậm, có điểm chưa thực hiện. Vệ sinh môi trường chưa đảm bảo, một số công trình đầu tư không được khảo sát, tính toán kỹ nên không phù hợp với tập quán của đồng bào, người dân không sử dụng gây bức xúc cho nhân dân và lãng phí lớn (như cầu qua kênh dẫn dòng ở huyện Sông Hinh, Phú Yên; nhà ở, công trình nước sinh hoạt ở khu tái định cư bản Khe ò, tỉnh Nghệ An; nhà vệ sinh không hợp lý ở điểm tái định cư xã Hơ Moong, tỉnh Kon Tum...). Một số công trình chất lượng kém, chưa có quy chế quản lý, sử dụng duy tu, bảo dưỡng cụ thể nên chóng xuống cấp, ảnh hưởng hiệu quả sử dụng, nhất là các công trình thủy lợi, giao thông, nước sinh hoạt (như: giếng đào không đủ nước sinh hoạt cho người dân ở khu tái định cư xã Hơ Moong; Công trình đập Đắk Nui ở Kon Tum, đã xây dựng ba năm nhưng không tích được đủ nước để phục vụ tưới tiêu cho 53 ha lúa nước; Nhà ở tái định cư được xây dựng theo khuôn mẫu không phù hợp với đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số, chất lượng công trình ở một số khu tái định cư chưa đảm bảo, mái nhà dột, một số bể không có nước, nhân dân không có đủ nước để sinh hoạt (như ở Nghệ An và Kon Tum).

Công tác thống kê, đền bù và phê duyệt các phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư có nơi còn để xảy ra sai sót trong quá trình kiểm kê, quy chủ và áp giá nên có hiện tượng bồi thường không đủ, bồi thường nhầm đối tượng. Việc chi trả chế độ cho dân chậm được thực hiện, một số nội dung chưa được công khai, rõ ràng trong nhân dân. Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách về di dân, tái định cư ở một số điểm chưa được quan tâm đúng mức, đồng bào chưa hiểu hết các chính sách, định mức, hình thức đền bù, hỗ trợ, dẫn đến việc một số điểm tái định cư còn xảy ra thắc mắc, khiếu nại nhiều (như ở Kon Tum, Nghệ An, Quảng Nam).

Công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn, phát huy vốn văn hoá truyền thống các dân tộc khi thực hiện tái định cư chưa được quan tâm toàn diện hoặc có được thực hiện những chưa phù hợp với bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số như xây dựng nhà Rông cho cộng đồng ở Kon Tum, Phú Yên.

Để công tác di dân tái định cư được thực hiện tốt hơn, Hội đồng Dân tộc kiến nghị một số vấn đề sau đây:

Đối với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Tăng cường hoạt động giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước về bồi thường, di dân tái định cư đối với các công trình thủy điện, thủy lợi trên phạm vi cả nước. Các cơ quan của Quốc hội tiếp tục nghiên cứu, rà soát các chính sách, pháp luật có tác động đến công tác di dân, tái định cư các công trình thủy lợi, thủy điện để có hướng xử lý đối với công tác đền bù, hỗ trợ, nhất là cho vùng dân tộc thiểu số (như Luật đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ Môi trường...).

Đối với Chính phủ sớm ban hành quy định cụ thể thống nhất về chính sách di dân tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi. Trong đó, chính sách đầu tư phát triển sản xuất và ổn định đời sống bền vững cho người dân tái định cư phải được đặt lên hàng đầu.

Cần tổ chức tổng kết, đánh giá tổng thể về việc xây dựng các công trình thủy điện trong phạm vi cả nước, xem xét hiệu quả tổng hợp (kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường) đem lại cho địa phương nói chung và các hộ tái định cư nói riêng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.

Khi phê duyệt dự án và cấp phép đầu tư các công trình thủy điện, thủy lợi phải xây dựng được phương án di dân, tái định cư nên có phương án để các hộ dân góp đất đai, tài sản bị ngập bằng các cổ phần vào việc xây dựng công trình và được hưởng lợi từ lợi nhuận sản xuất, kinh doanh của công trình mang lại. Các điểm tái định cư chỉ nên xây dựng quy mô nhỏ, vừa phải và đa dạng hóa mô hình tái định cư, tránh việc san phá nền tự nhiên làm thay đổi địa hình tạo ra các ta - luy cao, độ dốc lớn dễ gây sạt lở, không an toàn và phải đảm bảo về bảo vệ và phát triển nguồn rừng giữ vững môi trường sinh thái.

Các chủ đầu tư tăng cường trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong công tác quy hoạch, thiết kế khu, điểm tái định cư, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện (như phát sinh số hộ số khẩu, tách hộ sau năm 2003 ở Nghệ An), nhất là các phương án tổ chức sản xuất và hỗ trợ đời sống của người dân tái định cư sau khi các nhà máy đi vào hoạt động; tiếp tục rà soát, điều chỉnh chính sách bồi thường, hỗ trợ đảm bảo quyền lợi của người dân.

Hướng dẫn xây dựng các phương án sản xuất, giải quyết đất canh tác, giao đất, giao rừng cho hộ tái định cư; bố trí cơ cấu sản xuất cho các hộ tái định cư đặc biệt chú trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật cũng cần được thực hiện từng bước đảm bảo hiệu quả. Đồng thời cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân đã định cư.

Nên thống nhất trên phạm vi cả nước là giao cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh làm chủ đầu tư thực hiện công tác di dân, tái định cư các công trình thủy điện, thủy lợi. Vì chính quyền địa phương mới có điều kiện sâu sát, am hiểu về người dân và các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán của các dân tộc để đưa ra những quyết định phù hợp. Từ đó, các địa phương phải chịu trách nhiệm toàn diện, lâu dài đối với việc ổn định và phát triển đời sống nhân dân.

Sớm nghiên cứu, ban hành chính sách “hậu tái định cư” cho các dự án thuỷ lợi, thuỷ điện để đồng bào tái định cư có thu nhập bằng hoặc trên mức thu nhập trung bình của hộ sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Đồng thời với các địa phương (xã, thôn) nơi nhận các hộ dân chuyển đến cần được hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng (nước sinh hoạt, thủy lợi, đường giao thông, trường học, trạm y tế...) và có chính sách khuyến khích người sở tại san sẻ, nhượng đất cho các hộ tái định cư.

Đối với các địa phương, tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo, giám sát thi công hoàn thành các công trình thiết yếu ở các điểm tái định cư đảm bảo chất lượng cao nhất. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách về bồi thường, hỗ trợ đảm bảo quyền lợi của người dân mà khi phê duyệt dự án chưa được tính đến, hoặc có phát sinh do thời gian thực hiện kéo dài. Tập trung xem xét giải quyết dứt điểm tình hình khiếu kiện của người dân.

Sớm giải quyết đất sản xuất cho nhân dân ở các điểm tái định cư; nghiên cứu, xây dựng các phương án sản xuất phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, giúp hộ tái định cư lựa chọn mô hình sản xuất bảo đảm thu nhập ổn định lâu dài. Thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án, nguồn vốn khác trên địa bàn để tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh các hạng mục ở các điểm tái định cư. Ban hành quy chế quản lý, sử dụng, duy tu, bảo dưỡng các công trình công cộng tại các khu tái định cư sau khi bàn giao đưa vào sử dụng để đảm bảo phát huy hiệu quả lâu dài.

Khi xây dựng các khu tái định cư ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần chú ý đến việc giải quyết yêu cầu nuôi nhốt gia súc, gia cầm và làm kinh tế vườn với đảm bảo vệ sinh môi trường, đồng thời coi trọng việc duy trì không gian với xây dựng các thiết chế văn hóa nhằm giữ gìn, phát các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp các dân tộc.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, công khai các chế độ chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân; tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền vận động để đồng bào phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, giữa số dân mới đến và dân sở tại.

Công tác di dân tái định cư tại các công trình thủy điện, thủy lợi được thực hiện khá tốt, nhưng thực tế cho thấy còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để có chính sách di dân tái định cư hợp lý hơn, nhất là ở Miền Trung, Tây Nguyên, nơi mà đất và rừng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

TS. Lê Hải Đường

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Bờ Y Cửa khẩu lớn đã mở trên đất Tây Nguyên (07/2009)
  •  
  • Phát huy vai trò của già làng trưởng bản, người có uy tín trong xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội ở tỉnh Hà Giang (07/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,919,789


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs