Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII: Cần sớm ban hành Luật An toàn thực phẩm?

 12/06/2009

ĐB Phan Thị Mỹ Bình (đoàn Tuyên Quang) phát biểu ý kiến.

Một trong những nội dung quan trọng mà QH làm việc trong tuần là, tập trung thảo luận về việc thực hiện quản lý chất lượng vệ sinh, an toàn thực phẩm (CLVS ATTP). Phiên thảo luận dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên…

Số ca ngộ độc thực phẩm tăng

Theo Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý CLVS ATTP do Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Đặng Vũ Minh trình bày,cho thấy: chất lượng VSATTP vẫn còn yếu kém, số lượng ca tử vong do ngộ độc thực phẩm có xu hướng tăng. Từ năm 2004 - 2008, số vụ ngộ độc thực phẩm trung bình xảy ra tại khu công nghiệp là 7 - 32 vụ/năm với số người mắc là 905 - 3.589 người/năm (trung bình 113 người/vụ). Kết quả phân tích số liệu từ báo cáo của 63 tỉnh, thành phố, trung bình số mẫu rau quả tươi đạt yêu cầu giai đoạn 2004-2006 là 91 %, giai đoạn 2007-2008 là 90,5%. Tỷ lệ mẫu rau, quả tươi sống bị ô nhiễm vi sinh vật, tồn dư, hóa chất vẫn còn cao ở một số địa phương.

Hiện nay, cả nước chỉ có 617 cơ sở giết mổ có được kiểm soát, 16.512 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ không đảm bảo điều kiện VSATTP. Kết quả thanh tra 6.891 cơ sở chế biến, giết mổ gia súc, gia cầm trong cả nước cho thấy, số cơ sở đạt yêu cầu giảm từ 61,8% (2004-2006) xuống 51,8% (2007-2008). Việc vận chuyển thịt, gia súc, gia cầm tươi sống không tuân thủ điều kiện vệ sinh thú y vẫn diễn ra ở nhiều nơi, trong đó có cả Thủ đô Hà Nội. Công tác kiểm dịch động vật, kiểm tra vệ sinh thú y hiệu quả chưa cao.

Ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh và tồn dư hóa chất trong thịt và sản phẩm thịt (bao gồm cả thủy sản) là ở mức cao hơn so với rau quả.

Trung bình số mẫu thịt, sản phẩm từ thịt tươi sống đạt yêu cầu giai đoạn 2004-2006 là 68,2%, giai đoạn 2007-2008 là 62,9%. Vẫn còn nhiều cơ sở sản xuất rượu, bia, nước giải khát, nước uống đóng chai quy mô nhỏ, thủ công chưa thực hiện đầy đủ các quy định về chất lượng VSATTP. Sản xuất rượu thủ công vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn (250-300 triệu lít/năm) và có tới 95,7% người uống rượu sử dụng loại rượu này. Tuy nhiên, việc kiểm soát hàm lượng methanol, aldehyd trong rượu chưa tốt nên tử vong do ngộ độc rượu còn cao. Lượng rượu giả, nước giải khát kém chất lượng bị thu giữ vẫn ở mức cao.

Bệnh truyền qua thực phẩm là nguy cơ lớn đối với sức khỏe con người và giống nòi do sử dụng lâu dài thực phẩm không bảo đảm VSATTP. Hiện có tới 400 các bệnh truyền qua thực phẩm, chủ yếu là tả, lỵ trực trùng, lỵ amip, tiêu chảy, thương hàn, cúm gia cầm...

Chồng chéo, mâu thuẫn văn bản quy phạm pháp luật…

Trong 5 năm 2004 - 2008, đã có 337 văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) do các cơ quan TW ban hành, 930 văn bản do các cơ quan địa phương ban hành. Nhìn chung, các văn bản QPPL cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về CLVSATTP), nâng cao chất lượng hàng hóa thực phẩm, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, việc ban hành văn bản hiện còn bộc lộ một số bất cập. Số văn bản QPPL có liên quan đến quản lý CLVSATTP là quá nhiều. Theo thống kê sơ bộ còn có 48 văn bản có sự chồng chéo, mâu thuẫn, một số nội dung quy định không còn phù hợp, cần sửa đổi, bổ sung; chế tài xử lý vi phạm pháp luật về CLVSATTP còn chưa đồng bộ giữa các văn bản với cùng một hành vi vi phạm. Ví dụ: Nghị định 128/2005/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với cơ sở chế biến thủy sản 3 – 5 triệu đồng, tuy nhiên, Nghị định 45/2005/NĐ-CP quy định mức xử phạt từ 10-15 triệu, trong đó có thủy sản; tiến độ ban hành văn bản dưới luật còn chậm (Pháp lệnh VSATTP có hiệu lực thi hành từ 01/11/2003 nhưng đến 7/9/2004 mới có Nghị định 163/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh VSATTP...

Giáo dục đạo đức sản xuất, kinh doanh còn bỏ ngỏ...

Hoạt động tuyên truyền thời gian qua tập trung vào việc phổ biến chính sách pháp luật về quản lý chất lượng VSATTP, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng thực phẩm; tập huấn kiến thức cho nông dân, cho người chế biến, kinh doanh thực phẩm... Công tác truyền thông còn được tăng cường trong những thời gian cao điểm như tháng hành động về chất lượng VSATTP, trong những ngày lễ, tết hoặc những thời điểm xảy ra dịch bệnh... Theo báo cáo của Chính phủ, qua 4 năm từ 2005-2008, do đẩy mạnh công tác tuyên truyền nên tỷ lệ người tiêu dùng có nhận thức đúng về VSATTP tăng từ 38,3 % lên 48,6%, người sản xuất thực phẩm có nhận thức đúng về VSATTP tăng từ 47,8% lên 55,7%, người kinh doanh dịch vụ có nhận thức đúng về VSATTP tăng từ 38,6 % lên 49,4%.

Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật chưa thường xuyên. Nội dung tuyên truyền giáo dục chưa chuyên sâu cho các nhóm đối tượng, từng vùng miền; chưa chú trọng việc giáo dục đạo đức kinh doanh và ý thức trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng. Vì vậy, có tình trạng người sản xuất, kinh doanh thực phẩm do lợi ích trước mắt, sẵn sàng bỏ qua hoặc không thực hiện đúng các quy định về VSATTP gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng; sự chênh lệch về nhận thức giữa khu vực đô thị và nông thôn còn lớn, tình trạng người dân ăn cá nóc, nấm độc, uống rượu có hàm lượng metanol cao... vẫn xảy ra.

Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với việc vi phạm ATTP…

Trong phiên thảo luận tại hội trường, các ĐB đã đưa ra nhiều ý kiến chỉ rõ những hạn chế, bấp cập về vấn đề đảm bảo VSATTP. Cụ thể như: việc kiểm tra CLVSATTP mới chỉ tập trung vào thực phẩm nhập khẩu chính ngạch; việc nhập khẩu qua đường tiểu ngạch, phát hiện, phòng chống buôn lậu chưa được kiểm soát chặt chẽ.

Khảo sát thực tế cho thấy, trang thiết bị phục vụ kiểm tra còn thiếu và lạc hậu, việc kiểm tra chất lượng VSATTP chủ yếu bằng cảm quan. Mặt khác, tình trạng thiếu kho ngoại quan tại các cửa khẩu. Việc không phải khai báo thủ tục hải quan đối với mua bán, trao đổi hàng hóa trị giá dưới 2 triệu đồng của cư dân biên giới cũng là trở ngại lớn cho việc kiểm soát chất lượng VSATTP.

ĐB cho rằng hiện nay, lượng hàng hoá, trái cây, thực phẩm xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu là rất lớn. Vì vậy, cần tăng cường kinh phí và nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm duyệt, quản lý chất lượng ATVSTP tại các cửa khẩu. Vì việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ chất lượng thực phẩm khi đi qua cửa khẩu sẽ góp phần ngăn chặn tình trạng thực phẩm không an toàn lọt vào trong nước, ảnh hưởng tới sức khoẻ của người dân; việc kiểm tra, giám sát VSATTP phải được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ qua cả đường chính ngạch và tiểu ngạch. Ngoài ra, tất cả hàng hoá trị giá dưới 2 triệu đồng đều phải làm thủ tục khai báo hải quan.

Nhiều ĐB cho rằng: VSATTP có vai trò rất quan trọng đến sức khoẻ của con người. Vì vậy, cần ban hành Luật ATTP thay cho Pháp lệnh ATTP đang ban hành để điều chỉnh toàn diện và thống nhất các vấn đề về quản lý ATTP. QH cũng cần có Nghị quyết riêng về quản lý CLVSATTP. Trong đó, Nghị quyết phải quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quản quản lý, giám sát ATTP. Đặc biệt, cần đưa ra biện pháp mạnh để xử lý các cá nhân, cơ sở kinh doanh, chế biến thực phẩm không an toàn. Mức hình phạt phải cụ thể, có thể là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm không an toàn, có nhiều hoá chất độc hại đến sức khoẻ người dân.

Một số ĐB khác nêu ý kiến: Nhà nước cần có chính sách phát triển vùng sản xuất nguyên liệu thực phẩm theo hướng sản xuất lớn, gắn với việc phát triển thị trường hàng hóa nông sản an toàn. Đặc biệt, cần khuyến khích, hỗ trợ hoặc cho vay vốn để các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn. Ngoài ra, cần đầu tư kinh phí nâng cấp một số phòng thí nghiệm để đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hiện có; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư mới các phòng thí nghiệm...

Thu Phương

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • TP.Kon Tum: Kể chuyện về Bác dưới mái nhà Rông (06/2009)
  •  
  • Đảng bộ thị trấn Hộ Phòng: Lo cái chữ và chén cơm cho hộ Khmer nghèo (06/2009)
  •  
  • Đăk Lăk: 20 tỷ đồng cấp sách vở miễn phí cho học sinh chính sách (06/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,440,212


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs