Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/05/2009
Một số giải pháp để Tây Nguyên phát triển bền vững


Tây Nguyên ngày hội.

Theo quan điểm phổ biến hiện nay, trong chính sách phát triển dù ở tầm cấp nào (khu vực, quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương, cộng đồng) cần đảm bảo phát triển bền vững. Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển dựa trên nền của sự ổn định chính trị-xã hội, nó không chỉ dựa trên sự tăng trưởng kinh tế thuần túy, vô điều kiện mà còn bao hàm trong nó sự cả phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội…

Vì thế, phát triển bền vững ở Tây Nguyên vừa là mục tiêu có tính nhân văn sâu sắc, là yêu cầu cấp bách cũng là đòi hỏi có tính cơ bản, lâu dài trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước nói chung.

Tây Nguyên là vùng có tiềm năng và ẩn chứa nhiều nhân tố nội sinh cho sự phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội. Có trên 500 km đường biên giới với Lào và Campuchia - là mái nhà Đông dương, Tây Nguyên còn được xem là vùng trọng điểm trong chiến lược quốc phòng, an ninh quốc gia. Đây cũng là một trong những địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số đã và đang sinh sống. Với vị thế và tiềm năng ấy, từ trước đến nay Tây Nguyên luôn là khu vực được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư, xây dựng mọi mặt để cùng hoà nhập với tiến trình phát triển của cả nước.

Trong những năm gần đây, hàng loạt chính sách, giải pháp kinh tế-xã hội đã được triển khai, hướng ưu tiên nỗi bật nhất là xóa đói giảm nghèo cho cư dân các dân tộc thiểu số, ở vùng sâu, vùng xa. Trên cơ sở những quyết sách mang tính nhân văn - vì dân, vì sự tiến bộ xã hội, các cấp bộ đảng, chính quyền địa phương khu vực Tây Nguyên đã phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị để lãnh đạo, chỉ đạo và tạo lập nhiều điều kiện cần thiết cho mọi người lao động, mọi tầng lớp dân cư ở Tây Nguyên từng bước hoà nhập, thích nghi với lối sống, cách nghĩ, cách làm mới. Nhịp điệu cuộc sống, cách thức sản xuất, lối sống của nhiều nhóm cư dân các dân tộc thiểu số đã thực sự chuyển đổi. Quá trình tập trung phát triển kinh tế đã có những bước nhảy trong việc phá vỡ những tươ duy lạc hậu, hằn sâu trong nếp nghĩ, phong tục, tập quán lâu đời của các cư dân bản địa. Phần lớn đồng bào các dân tộc ít người ở các buôn làng đã định canh, định cư, thực hành thâm canh, sản xuất hàng hoá. Rất nhiều trang trại sản xuất cà phê, cao su, dâu tằm, cây ăn quả, cây lương thực... hình thành, phát triển đạt hiệu quả kinh tế hàng hoá cao. Nhờ sự thay đổi phương thức tập quán canh tác, đổi mới cơ cấu cây trồng, con vật nuôi nên sản lượng lương thực nói riêng và của sản xuất xã hội nói chung không ngừng tăng lên, bảo đảm từng bước ổn định và nâng dần mức sống của người dân, giảm dần tỷ lệ đói nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số với người Kinh, giữa miền núi và đồng bằng, giữa vùng cao và miền xuôi. Nhiều phố mới, làng mới, nhiều cơ sở hạ tầng được xây dựng, phát triển làm cho bộ mặt Tây Nguyên trong thời gian qua liên tục được thay da, đổi thịt theo dáng dấp của xã hội đang trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Có thể khẳng định những chủ trương, chính sách về xây dựng, phát triển điện, đường, trường, trạm; định canh, định cư, giao đất khoán rừng; chăm lo sức khỏe, chăm lo giáo dục; khuyến nông, khuyến lâm; nước sạch nông thôn theo phương châm “nhà nước nhân dân cùng làm” hay “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” với mức độ khác nhau, nhưng đã từng bước đi vào cuộc sống. Đổi mới, dân chủ hóa là con đường đúng đắn để biến đổi cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng Tây Nguyên.

Tuy vậy, nền kinh tế phát triển nhanh nhưng không cân đối, đồng bộ, thiếu tính đột phá về cơ cấu, do đó không bền vững. Sự phát triển kinh tế tập trung vào các vùng đô thị, ven các trục giao thông. Vùng sâu, vùng xa sự đổi thay còn quá chậm. Mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư chênh lệch khá lớn và đang có xu thế doãng xa thêm. Nhìn tổng thể cho đến hiện nay, sự phát triển của các tỉnh Tây Nguyên vẫn chưa hoàn toàn vững chắc; nhiều vấn đề bức xúc của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội và đặc biệt là những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp, nhạy cảm đang tiềm ẩn…

Để tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chiến lược xây dựng và phát triển Tây Nguyên trong giai đoạn tiếp theo, có nhiều việc phải làm, trong đó cần thống nhất nhận thức và có những giải pháp thiết thực sau:

Thứ nhất: Tạo lập các điều kiện và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở Tây Nguyên một cách có hiệu quả.

Nền tảng của mọi sự phát triển xã hội xét đến cùng là sức mạnh kinh tế. Vì vậy, trong chiến lược phát triển Tây Nguyên hiện nay và về sau, phải quán triệt đầy đủ quan điểm “ phát triển kinh tế là trọng tâm”.Theo tinh thần đó cần làm cho mọi người dân, mọi cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ nhiệm vụ trung tâm của chiến lược bảo vệ Tổ quốc là phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là cơ sở, nền tảng vật chất cần thiết để ổn định và phát triển mọi lĩnh vực khác. Phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh là vấn đề có tính chất quyết định trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Trong tình hình đời sống của đa số đồng bào ở vùng núi dân tộc thiểu số đặc biệt là khu vực biên giới còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, để phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội ở khu vực biên giới, cần tổ chức thực hiện tốt các dự án, chương trình phát triển kinh tế xã hội, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm... thực hiện tốt các chủ trương xoá đói giảm nghèo, từng bước nâng cao đời sống vật chất của nhân dân miền núi nói chung và khu vực biên giới nói riêng.

Cần quan tâm chỉ đạo các ban ngành tiếp tục rà soát lại các đề án phát triển kinh tế-xã hội từng vùng, trên cơ sở đó điều chỉnh mô hình phát triển kinh tế tổng thể để vừa phù hợp với điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu, vừa đáp ứng xu hướng hội nhập. Phải xây dựng lộ trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội từng vùng với từng bước đi thích hợp theo hướng trước mắt ưu tiên phát triển cây công nghiệp dài ngày, ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng còn khó khăn.Tiếp tục thực hiện ổn định dân cư các vùng theo Quyết định 93/2006/QĐ-TTg và ổn định dân di cư tự do, định canh, định cư theo Quyết định 33/2007/QĐ-TTg. Nghiên cứu quy hoạch và ổn định các khu dân cư cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào khu vực biên giới, thực hiện chính sách giao khoán đất, rừng lâu dài cho đồng bào, để phát huy tinh thần làm chủ của họ, đầu tư sản xuất, kết hợp với các chương trình phát triển kinh tế như khuyến nông, khuyến lâm phát triển kinh tế hộ gia đình.

Cần nhận thức đầy đủ và có giải pháp phù hợp trong việc hỗ trợ sản xuất và đời sống cho các hộ dân tộc thiểu số nghèo. ở đây, có lẽ không phải là thiếu đất mà thiếu việc làm mới là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đói nghèo. Sớm tổng kết và chấm dứt việc giải quyết đất sản xuất theo Quyết định 134. Sơ kết việc thực hiện Quyết định 304, 231 để điều chỉnh, bổ sung, bảo đảm tổ chức thực hiện tốt trong thời gian tới. Khuyến kích phát triển kinh tế trang trại, trước mắt tổng kết mô hình kinh tế trang trại hiện có trên cơ sở đó nghiên cứu mô hình trang trại với quy mô lớn, đa cây, đa con. Kết hợp giữa phát triển vùng nguyên liệu với xây dựng nhà máy chế biến sản phẩm, bao tiêu sản phẩm.

Có cơ chế tăng cường thu hút đầu tư, nhất là vào các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như công nghiệp thuỷ điện, khai thác khoáng sản, chế biến nông lâm sản; dịch vụ du lịch, kinh tế rừng, chăn nuôi gia súc và nông nghiệp kỹ thuật cao. Tạo điều kiện cho những người có khả năng đầu tư lớn đặc biệt là lĩnh vực trồng rừng. Tìm mọi cách để tăng thêm các nguồn vốn đầu tư (chủ yếu là từ ngân sách nhà nước và vốn ODA) để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong vùng, nhất là ở các địa phương mới thành lập và thực hiện đề án thuỷ lợi vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Tăng cường hoạt động trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại để tìm kiếm thị trường, đối tác đầu tư, tiêu thụ các mặt hàng chủ lực của vùng như cà phê, hồ tiêu, cao su, trồng rừng.

Trên cơ sở những thành quả về phát triển kinh tế để thực hiện các giải pháp nâng cao dần mức sống, chất lượng sống vật chất tinh thần cho đồng bào các dân tộc nhất là ở vùng sâu, vùng xa như nâng cao trình độ dân trí, tổ chức đời sống trong gia đình, trình độ sản xuất, làm ăn cho đồng bào, đặc biệt là lớp trẻ. Phối hợp với các đơn vị kinh tế đóng trên các địa bàn giải quyết tốt việc làm cho thanh niên người dân tộc thiểu số, gắn phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh, an ninh quốc phòng với kinh tế. Củng cố và duy trì, phát triển phong trào tự quản đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự thôn bản để nhân dân tự nguyện giúp đỡ và tham gia cùng các lực lượng chức năng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.

Thứ hai: Bảo vệ và phát triển các giá trị làm nên bản sắc văn hóa Tây Nguyên nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, chủ động trong phòng chống các yếu tố ngoại lai, độc hại.

Nói đến Tây Nguyên là nói đến khu vực còn bảo lưu một nền văn hóa dân tộc đặc sắc của cộng đồng cư dân bản địa cổ đại. Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi của hiện thực, xét về phương diện văn hóa, sự chuyển đổi trong nếp nghĩ và lối sống của mỗi người và mỗi cộng đồng ở đây cũng là tất yếu. Cái khó là làm thế nào để đồng bào biết thay đổi nhằm tạo nên những đột phá trong phát triển kinh tế, cải thiện và từng bước nâng cao việc thỏa mãn nhu cầu vật chất nhưng lại không bị đứt gãy các giá trị bản sắc văn hóa của chính mình.

Cái làm nên bản sắc xa xưa gắn liền với phong tục, tập quán của một buôn làng khép kín- tự cung, tự cấp, giờ đây đang từng bước thay đổi. Kinh tế tự cung tự cấp phải chuyển đổi thành kinh tế hàng hóa, phươơng thức sản xuất phải cải tiến, không còn chỉ có săn bắt, hái lươợm, chiếm đoạt tự nhiên mà phải biết trồng trọt, thuần dưỡng, chăn nuôi, chuyển dịch giống cây, con, phục hóa, khai hoang, làm ruộng nước, tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn... Sẽ không còn thời gian, không gian để mọi người đắm chìm trong sinh hoạt theo phong tục tự nhiên, gần như bản năng của thuở xa xưa... Nhưng cũng không thể không quan tâm đến một phương diện khác, đó là thông qua các quan hệ kinh tế, các hoạt động truyền bá văn hóa tinh thần… các “giá trị văn hóa ngoại lai” đang tích cực len lỏi, xâm nhập vào đời sống xã hội của Tây Nguyên. Tâm lý hưởng lạc vật chất tầm thường và thị hiếu thấp hèn đang được khai thác triệt để và khuyến khích phát triển; nó làm cho một bộ phận dân chúng, trong đó phần nhiều là tầng lớp thanh, thiếu niên, có xu hướng thay đổi quan niệm về giá trị truyền thống, muốn du nhập vào trào lưu “cách tân”, xem nhẹ và quay lưng lại với các giá trị truyền thống dân tộc. Các hoạt động truyền bá “văn hóa tân tiến” không vô tình khi đang muốn tạo ra một lớp người “mới” xa lạ, mất gốc và không định hướng được tương lai… Có thể nói rằng, các giá trị ngoại lai đang tác động vào hệ thống các quan điểm về đạo đức, tâm lý; phá vỡ thuần phong, mỹ tục vốn đã được gìn giữ từ hàng nghìn năm nay trong đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Nếu không có biện pháp hữu hiệu, nó sẽ dần tiến xa hơn, tiếp cận từng bước tới mục tiêu đồng hóa văn hóa, tạo ra lớp người chỉ biết ham muốn những lợi ích kinh tế, đề cao giá trị “hiện đại” mà coi nhẹ, thậm chí quên hẳn, những giá trị văn hóa, những giá trị truyền thống- nền móng tạo dựng và duy trì bản sắc văn hóa tộc người.

Thứ ba: Chủ động nắm bắt kịp thời âm mưu và những hoạt động của các thế lực thù địch đồng thời đổi mới phương thức giáo dục, tuyên truyền dường lối, chính sách của Đảng, nhà nước phù hợp với đặc điểm ở từng địa phương, từng ngành, từng đơn vị.

Một sự thật hiển nhiên là trong những năm qua, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta đang ngày càng đa dạng, tinh vi và quyết liệt hơn. Mặc dù chúng ta đã có nhiều nội dung, biện pháp để tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về âm mưu và hành động của các thế lực đó trong tình hình mới, song trên thực tế không chỉ quần chúng nhân dân mà cả một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn khá mơ hồ về âm mưu và thủ đoạn đó. Trong cuộc sống và công việc hàng ngày, cảnh giác với những “cuộc chiến không có khói súng” dường như chỉ là nhiệm vụ của những cơ quan, cán bộ có chức năng, còn đa số vẫn rất ít để ý, quan tâm. Khi mọi việc lộ diện ra cũng là lúc tình hình đã trở nên phức tạp gay cấn và tác động trực tiếp đến an ninh và trật tự, an toàn của xã hội thì không ít nơi, ít chủ thể lại có biểu hiệu bị động đối phó, thậm chí hoảng loạn…

Khắc phục tình trạng này, một mặt, các cơ quan chức năng, cần đổi mới cách thức nắm bắt thông tin, đặc biệt là những thủ đoạn, những hoạt động chống phá của các thế lực trong và ngoài nước; chủ động và kịp thời vạch rõ âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Từ góc độ này, vấn đề có tính chất quyết định là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng, trong đó đặc biệt chú trọng đến các chiến sỹ xung kích trên mặt trận tư tưởng. Cùng với ý chí, lòng dũng cảm, hiệu quả của cuộc chiến này còn phụ thuộc phần lớn vào tài trí của đội ngũ cán bộ. Tài trí thể hiện ở chỗ không chỉ có thông tin đầy đủ, đáng tin cậy, có khả năng vạch trần được bản chất, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù mà không làm ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại thêm bạn, bớt thù, mở cửa hội nhập. Bên cạnh đó, cần có nhiều hình thức để mọi cán bộ, đảng viên phải được giáo dục toàn diện, rộng rãi và sâu sắc về âm mưu của kẻ địch, nhất là về lòng trung thành cách mạng, khả năng miễn dịch cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ ở cơ sở tại các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Có chế độ học tập riêng cho từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở những bộ phận then chốt, hệ thống ngành kinh tế trọng điểm, chuyên biệt.

Cùng với những việc làm trên, các cấp, các ngành cần kết hợp nhiều hình thức, loại hình để tuyên truyền những nội dung này đến mọi tầng lớp dân cư (chứ không chỉ giới hạn trong lực lượng chuyên trách hay chủ thể lãnh đạo, quản lý). Trong đó một mặt cần quan tâm hoàn thiện hệ thống thông tin đại chúng, mặt khác phải xây dựng hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên có nghiệp vụ giỏi. Hệ thống này phải đảm bảo đủ sức mạnh và khả năng để đáp ứng một cách tích cực nhất các nhu cầu thông tin ngày càng tăng lên của nhân dân, đặc biệt là thông tin về “Diễn biến hoà bình” và cuộc đấu tranh chống “Diễn biến hoà bình”. Cần xây dựng hệ thống truyền thông đại chúng có đủ khả năng và sức mạnh tham gia vào hoạt động giao lưu quốc tế. Có khả năng tiếp nhận, xử lý và tung vào dòng thông tin truyền thông quốc tế một lượng thông tin đủ lớn, đủ mạnh để tạo ra một tiếng nói công bằng, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân các nước, phát huy và bảo vệ những lợi ích kinh tế, định hướng chính trị, những giá trị văn hoá của dân tộc, quốc gia và chế độ.

Trong tư tưởng không có khoảng trống, hiểu và nắm bắt được tình cảm, suy nghĩ của quần chúng là cách thức hữu hiệu nhất góp phần ngăn chặn ảnh hưởng của những phản giá trị đến từ vô vàn những con đường khác nhau trong thời mở cửa. Để hiểu dân thì phải nghe dân nói và một trong những giải pháp cần được ưu tiên hiện nay ở Tây Nguyên là cụ thể hoá nội dung và triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, bảo đảm phù hợp với đặc thù về tâm lý, thói quen, lối sống cộng đồng của đồng bào các dân tộc thiểu số. Và, về lâu dài phải tạo lập các điều kiện để thay đổi cách thức “tăng cường” theo kiểu đi về (trong ngày hoặc trong tuần) và “đỡ đầu” theo kiểu “cho không” bằng phương thức bám dân, bám cơ sở, “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” - mô hình các đồn biên phòng cùng dân xây dựng và phát triển làng bản - để thực sự hiểu dân, chia sẻ tâm tư tình cảm, hướng dẫn, tập dượt cho họ cách làm ăn, cách tổ chức cuộc sống; tạo cho mỗi người dân, mỗi gia đình một cách sống thực sự độc lập, có khát vọng đổi đời và biết trăn trở tìm tòi tạo dựng các mô hình, các điển hình và có khả năng nhân rộng cách làm đó.

Thứ tư: Cần làm tốt hơn nữa công tác cán bộ và bảo vệ nội bộ, bảo vệ đội ngũ cán bộ, nhất là những cán bộ chủ chốt.

Sau khi có đường lối đúng, cán bộ quyết định cơ bản và quan trong sự thành bại của việc tổ chức thực hiện đường lối. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “ Cán bộ là gốc của công việc. Công việc thành hay bại là do cán bộ tốt hay kém”. Đảng ta cũng khẳng định: Cán bộ lãnh đạo quản lý là người đại diện cho Đảng, nhà nước ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực của đời sống đất nước và là nhân tô quyết định việc tổ chức thành công đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp cách mạng.

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta đang đứng trước rất nhiều vận hội, thời cơ, nhưng cũng đang phải đối mặt với không ít nguy cơ, thách thức. Trong các nguy cơ, thì nguy cơ bên trong - những lực cản, bất cập tồn tại trong hệ thống chính trị ở nước ta vẫn là nhân tố cần được ưu tiên giải quyết nhất. Kẻ thù chỉ có thể chống phá chế độ một cách hữu hiệu ở đâu, lúc nào điều đó tùy thuộc chủ yếu vào trạng thái, chất lượng và hiệu quả của hệ thống chính trị.

Xét từ góc độ này, trong điều kiện hiện tại ở Tây Nguyên, chìa khóa cho việc tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức suy cho cùng vẫn là yếu tố con người - cán bộ. Vì thế, xây dựng và bảo vệ đội ngũ cán bộ ở Tây Nguyên hiện nay cũng như lâu dài cần kết hợp chặt chẽ phòng chống với xây dựng, phòng là trước hết, xây là chính.

Cần tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở. Cơ cấu cán bộ chủ chốt phải có sự đan xen giữa các dân tộc. Cố gắng bố trí những cán bộ có quá trình gắn bó với địa phương hay hiểu biết phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa và đặc biệt phải biết ngôn ngữ của ít nhất một dân tộc thiểu số chủ yếu trong vùng. Cần thực hiện tốt chế độ đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số gắn bó lâu dài với quê hương, làng bản và tạo môi trường, điều kiện cho họ trưởng thành từng bước về trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn đồng thời có chính sách thu hút nhân tài về phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tây Nguyên.

Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, trước mắt nên có hình thức kết hợp dạy nghề và dạy chữ ngay từ đầu (có thể từ lớp 3, lớp 4 trở lên) cho con em đồng bào dân tộc thiểu số, để tạo nguồn. Ưu tiên đổi mới nội dung chương trình theo hướng phát huy năng lực tư duy, nhất là tư duy trừu tượng, rèn luyện khả năng, kỹ năng ứng dụng; phải thay đổi căn bản về phương pháp, phương thức đào tạo nhằm khuyến khích người học thể hiện hết cái khả năng tiềm ẩn của mỗi người.

Phát triển xã hội Tây Nguyên đã, đang và sẽ là mối quan tâm, là quyết tâm lớn của cả nước cũng như của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, thực hiện an dân, tăng cường sức dân sẽ góp phần khơi dậy truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên để chính họ tạo nên những thành quả mới trong sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội, vì một cuộc sống bình yên và ngày càng tự do, hạnh phúc. Đó cũng chính là biểu hiện sinh động của triết lý nhân sinh trong quá trình xây dựng xã hội Tây Nguyên hiện đại đủ sức hội nhập để cùng phát triển bền vững.

PGS.TS Hồ Tấn Sáng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,260,097


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs