Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/05/2009
Giải pháp hỗ trợ giảm nghèo nhanh bền vững với 61 huyện nghèo của cả nước


Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân tặng áo phao cho học sinh vùng hồ Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn.

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nước nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc.

Thành tựu xoá đói giảm nghèo thời gian qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, đặc biệt là ở những huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao, đến cuối năm 2006, cả nước có 61 huyện (gồm 797 xã và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách và tập trung nguồn lực để ưu tiên phát triển vùng này, nhưng mức độ chuyển biến còn chậm, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 3,5 lần bình quân cả nước.

Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do các huyện này đều nằm ở vùng núi, địa hình chia cắt, diện tích tự nhiên rộng, nhưng diện tích đất canh tác ít; điều kiện thời tiết không thuận lợi, thường xuyên xảy ra lũ quét, lũ ống; cơ sở hạ tầng vừa thiếu, vừa kém; dân số khoảng 2,4 triệu người, trong đó trên 90% là đồng bào dân tộc thiểu số. Các nguồn hỗ trợ của Nhà nước phân tán, chồng chéo, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp, chưa quan tâm đúng mức đến hỗ trợ sản xuất; đội ngũ cán bộ nhất là cán bộ cơ sở còn yếu và thiếu cán bộ khoa học, kỹ thuật; chưa thu hút được các doanh nghiệp đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước ở một bộ phận dân cư còn nặng nên đã hạn chế phát huy nội lực.

Để tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả hơn, ngày 27 tháng 12 năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tập trung chỉ đạo thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững ở những địa bàn khó khăn nhất của cả nước.

Chương trình hỗ trợ các huyện nghèo là một mô hình thử nghiệm mới của Chính phủ nhằm tăng cường tính hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng đối với các địa bàn nghèo nhất, các chương trình khác như Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Chương trình 135 giai đoạn II vẫn tiếp tục được triển khai thực hiện theo các mục tiêu cụ thể đã đề ra.

Về mục tiêu, đến năm 2010, giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện này xuống dưới 40%; đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống ngang bằng mức trung bình của tỉnh và đến năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống ngang bằng mức trung bình của khu vực.

Để sớm đưa Nghị quyết vào cuộc sống, cần tập trung vào các giải pháp sau:

1. Về cơ chế, chính sách, cùng với việc tiếp tục thực hiện đúng và đầy đủ hệ thống chính sách an sinh xã hội hiện hành về hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo ở các huyện nghèo, Chính phủ đã ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ các huyện nghèo. Điểm nổi bật của gói giải pháp tạo đột phá về xóa đói nghèo đối với 61 huyện là các chính sách cụ thể về hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập thông qua các chính sách để người dân có thu nhập từ rừng; chính sách hỗ trợ sản xuất; thu hút doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà khoa học tham gia hỗ trợ các huyện nghèo; chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động tại các huyện nghèo…

Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí ở các huyện nghèo, nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững; Chính sách tăng cường, luân chuyển và thu hút cán bộ đối với các huyện nghèo; chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các huyện nghèo, từ cấp huyện đến xã và dưới xã (thôn, bản).

2. Về cơ chế thực hiện, Chính phủ cũng quy định đối với những địa bàn và những đối tượng thuộc 61 huyện nghèo, nếu đang được hưởng các chính sách ưu đãi khác không trùng với các chính sách quy định tại Nghị quyết này thì tiếp tục hưởng các chính sách đó; nếu trùng với các chính sách trong Nghị quyết này nhưng với mức ưu đãi khác nhau thì hưởng theo mức ưu đãi cao nhất. Tất cả các xã thuộc các huyện nghèo đều được hưởng các cơ chế, chính sách quy định như đối với xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 giai đoạn II. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng ban hành các quy định về đầu tư, đấu thầu, cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù và năng lực tổ chức thực hiện ở các huyện nghèo. Những công trình quy mô nhỏ ở cấp thôn, bản giao cho các tổ, đội, hội, nhóm ở thôn, bản tổ chức thực hiện; phải bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn đầu tư đồng thời xây dựng cơ chế thông thoáng, dễ làm, dễ thực hiện tạo điều kiện cho cộng đồng và người dân tham gia thực hiện, tăng thu nhập.

Nguồn vốn của chương trình gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn ODA, trái phiếu Chính phủ, vốn tín dụng đầu tư, vốn đóng góp của doanh nghiệp và dân cư, vốn thực hiện các chương trình, dự án hiện hành được ghi trong kế hoạch hàng năm và 5 năm. Việc phân bổ vốn thực hiện theo nhu cầu thực tế và kế hoạch tiến độ, thực hiện nêu trong Đề án huyện nghèo đã được phê duyệt.

Giao cho Uỷ ban Nhân dân cấp huyện căn cứ định hướng cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung, xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân ở từng thôn, bản, xã và căn cứ vào nguồn lực từ các chương trình, dự án trên địa bàn để quyết định bố trí đầu tư cụ thể, bảo đảm đầu tư đồng bộ và hiệu quả.

3. Để triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ các huyện nghèo, Chính phủ đã chỉ đạo thành lập 8 đoàn công tác liên ngành để hướng dẫn các huyện xây dựng Đề án giảm nghèo trên địa bàn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt (đến nay, các đoàn đã hoàn thành việc hướng dẫn xây dựng Đề án giảm nghèo ở địa phương); đề nghị các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước nhận kết nghĩa, hỗ trợ các huyện nghèo; chỉ đạo các bộ, ngành theo ban hành theo thẩm quyền hoặc trình ban hành các văn bản hướng dẫn địa phương thực hiện. Các huyện nghèo cơ bản đã tiến hành xây dựng xong Đề án giảm nghèo trên địa bàn từ cơ sở thôn, bản, xã trở lên, có sự tham gia của người dân, đang trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt để tổ chức thực hiện.

Để Chương trình hỗ trợ các huyện nghèo thực hiện có hiệu quả, cùng với các chính sách đặc thù và nguồn lực đầu tư tập trung của nhà nước, sự hỗ trợ của cộng đồng, doanh nghiệp, cần tổ chức tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội; thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, mở rộng sự tham gia của người dân, nâng cao vai trò và trách nhiệm của hệ thống chính trị ở cơ sở; bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá thường xuyên, không để xẩy ra những thất thoát, tiêu cực trong thực hiện, bảo đảm chính sách và nguồn lực đầu tư của nhà nước, cộng đồng đến được đối tượng thụ hưởng.

Nguyễn Thị Kim Ngân
Uỷ viên Trung ương Đảng
Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,299,953


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs