Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/05/2009
Những đóng góp của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ
Chính sách của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực hiện đối với dân tộc thiểu số ở miền Nam nước ta là khoét sâu vấn đề tự trị giả hiệu. Đối với Tây Nguyên, ngoài chiêu bài Hoàng triều cương thổ và một nhà nước Đề-ga tự trị, Mỹ đã biến mặt trận Bajaraka của Pháp thành Fulro (Front Unifié Libérations des rasse oprimess).

Để tách các dân tộc ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng, chúng lập ra nhiều khu định cư theo kiểu “ấp chiến lược”. Nhiều buôn làng của dân tộc Êđê, Bana, Cơ ho, Giarai... cũng bị gom vào các khu định cư. Những tập tục của các dân tộc được chúng triệt để lợi dụng để mị dân. Ngoài ra chúng còn đào tạo một số chức sắc là người dân tộc thiểu số để tổ chức buôn làng.

Đứng trước những âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, Trung ương cục miền Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tổ chức bộ phận cán bộ hoạt động công tác dân tộc, đồng thời nhấn mạnh cần thực hiện chính sách dân tộc thật tốt. Đến những năm 1960, nhằm thúc đẩy sự nghiệp chống Mỹ cứu nước trên phạm vi cả nước nói chung và các vùng dân tộc thiểu số nói riêng, Trung ương Đảng ra chỉ thị số 73CT/TW ngày 24/1/1963 “Về tăng cường sự lãnh đạo công tác tuyên giáo đối với các dân tộc thiểu số”, nhằm động viên các dân tộc thiểu số cả nước quán triệt đường lối chính sách dân tộc của Đảng.

Trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta, đồng bào các dân tộc thiểu số đã kiên cường bất khuất cầm vũ khí phối hợp với bộ đội đánh giặc giữ buôn làng. Vùng sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên là căn cứ địa vững chắc của công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có vị trí chiến lược quan trọng vừa chế ngự miền duyên hải Trung Bộ về phía đông, vừa có thế liên hoàn nối liền ba nước Đông Dương. Vì vậy, đây là địa bàn có nhiều ưu thế để xây dựng các căn cứ địa và hậu phương kháng chiến, làm địa bàn đứng chân để xây dựng lực lượng, là nguồn cung cấp tiếp tế, là bàn đạp tiến công của lực lượng vũ trang.

Theo tinh thần Nghị quyết 15 (khóa II) của Đảng về cách mạng miền Nam, vùng miền núi được xác định là vùng chiến lược quan trọng, các dân tộc thiểu số là lực lượng to lớn của cách mạng. Tháng 3/1959 Bộ chính trị ra Chỉ thị “xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ cách mạng chính ở miền Nam”. Kế tục truyền thống của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các căn cứ địa ở vùng dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên đã được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những căn cứ địa kháng chiến vừa đảm bảo duy trì liên lạc thông suốt giữa hậu phương lớn miền Bắc và tiền tuyến lớn miền Nam, vừa đảm bảo tăng cường sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống Mỹ với quy mô lớn và ngày càng khốc liệt. Các căn cứ địa ở Tây Nguyên là những nơi có hơn 20 dân tộc sinh sống lâu đời đã trở thành những địa bàn chiến lược quan trọng mà kẻ thù tìm mọi cách phá hoại, kể cả việc rải chất độc hóa học, ném bom napan, cùng hàng triệu tấn bom đạn thực hiện hàng ngàn cuộc càn quét nhưng không thể đè bẹp được ý chí cách mạng của quân dân miền Nam trong các căn cứ địa cách mạng. Đồng bào các dân tộc thiểu số đã tích cực sản xuất lương thực nuôi cán bộ, bộ đội, chăm sóc thương bệnh binh; đi dân công, làm đường, gùi đạn, đào hầm, cung cấp tình hình địch và dẫn đường cho bộ đội. Trong hoàn cảnh khó khăn ác liệt của chiến tranh, với phương tiện sản xuất còn rất thô sơ và khí hậu khắc nghiệt, lại bị địch thường xuyên o ép, bố ráp, bom đạn, chất độc hóa học rải khắp núi rừng, mặc dù đồng bào còn thiếu đói nhưng vẫn tích cực sản xuất sẵn sàng ăn sắn ăn rau rừng để dành gạo cho bộ đội. Dọc theo hành lang đường mòn Hồ Chí Minh các dân tộc thiểu số thi đua làm “rẫy cách mạng”. Đồng bào đã tạo ra các vạt sắn làm nguồn lương thực dự trữ cho các cuộc hành quân lớn và bộ đội dân công phục vụ cho các chiến dịch. Sự đóng góp lương thực, thực phẩm nếu đem so sánh với dân số và điều kiện trình độ canh tác trong vùng các dân tộc thiểu số ở dọc Trường Sơn và Tây Nguyên mới thấy vô cùng to lớn. Năm 1971, 1972 chưa đầy 30.000 dân căn cứ của Kon Tum đã ủng hộ cho cách mạng 540 tấn gạo, 200 tấn bắp, 420 tấn sắn. Bình quân mỗi người đóng góp ủng hộ cách mạng trên 38kg/năm. ở Gia Lai, trong năm 1972 có trên 80.000 dân hậu cứ và hợp pháp mà đã huy động, động viên thu mua trên 850 tấn gạo, 650 tấn sắn, 450 tấn bắp và hàng trăm tấn hoa màu khác. Tình cảm quân dân gắn bó đã trở thành một sức mạnh to lớn để vượt qua muôn vàn khó khăn, có được những chiến thắng như Pleime (1965), Sa Thầy (1966), Đắc Tô I (1967), ĐăkTô-Tân Cảnh (1972), đến Buôn Ma Thuột (1975).

Bên cạnh đóng góp sức của cho cuộc kháng chiến, đồng bào các dân tộc thiểu số còn đóng góp sức người cũng không kém phần to lớn. Riêng Gia Lai, năm 1967 đã có 250 thanh niên tòng quân. Đặc biệt từ đầu năm 1968 đến tháng 10 năm 1968 do yêu cầu phục vụ chiến trường chiến đấu liên tục đã có 802 thanh niên tòng quân. Nhiều huyện nhân dân đã liên tục đi dân công làm đường, chuyển lương tải đạn. Nhiều gia đình cả vợ chồng, con ra mặt đường chuyển vũ khí. Trên các hành lang giao liên đồng bào không quản ngày đêm đóng góp hàng chục triệu ngày công vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược... phục vụ cho các chiến dịch. Đó là chưa tính đến hàng vạn nhân công của Hội phụ nữ Giải phóng huy động chị em giã gạo thâu đêm, các cụ già làng cũng tham gia giã gạo cho kịp phục vụ chiến đấu- việc mà bao đời nay đàn ông người dân tộc không bao giờ làm.

Trong chiến dịch Đắc Tô I năm 1967, nhờ có gùi thồ của các nữ dân công người dân tộc thiểu số, bộ đội mới có đủ gạo để chiến thắng lữ đoàn 173 của Mỹ. Đồng bào tham gia làm đường, đào hào đắp ụ, gùi đạn cho bộ đội chiến đấu. Trong chiến dịch ĐắcTô-Tân Cảnh năm 1972, nhờ có hai con đường làm giả của đồng bào ở đông bắc thị xã Kon Tum để thu hút địch mà bộ đội ta bất ngờ tấn công giải phóng Tân Cảnh. Trong chiến dịch Tây Nguyên, khi ta phải cơ động hàng ngàn quân trên chiến trường, đồng bào vẫn đảm bảo bí mật cho bộ đội, nương rẫy của đồng bào xung quanh Buôn Ma Thuột cũng là nơi che dấu cho chủ lực trước lúc tiến công.

Cùng với việc đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đồng bào các dân tộc thiểu số còn trực tiếp cầm vũ khí tham gia kháng chiến. Chiến tranh du kích là một hình thức phù hợp với đặc điểm địa hình vùng rừng núi đã được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trước hết là việc xây dựng làng chiến đấu ở Gia Lai, Kon Tum và các vùng khác.

Các dân tộc đã phát huy tính cộng đồng vừa giữ vững buôn làng vừa đấu tranh chống lại sự phá hoại của giặc. ở đó, hệ thống cai trị của địch bị vô hiệu hóa và đồng bào đi theo cách mạng làm chủ buôn làng. Lực lượng kháng chiến trong các làng chiến đấu đều là du kích, họ đã sử dụng hàng triệu ngày công của các lứa tuổi, các tầng lớp để vót chông, đào hầm, gài bẫy thò, bẫy đá... làm cho hàng ngàn tên địch bị thương vong. Trong tháng 3 năm 1975 phối hợp với hoạt động của quân chủ lực, con em các dân tộc Tây Nguyên trong các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích các buôn làng đã tham gia đánh địch, phục kích tiêu diệt địch trên đường rút chạy.

Cùng với mặt trận quân sự, đồng bào các dân tộc thiểu số còn tham gia đấu tranh trên mặt trận chính trị và binh vận tạo thành ba mũi giáp công. Những vùng địch chiếm đóng ở Bắc Tây Nguyên đã nổ ra gần 200 cuộc biểu tình thu hút hàng vạn người tham gia đấu tranh. Binh vận là một mũi giáp công quan trọng. ở vùng dân tộc thiểu số, binh vận không chỉ đánh vào ngụy quân mà còn góp phần làm tan rã hệ thống ngụy quyền của địch. Bằng các hình thức rải truyền đơn, viết thư tay cho thân nhân trong ngụy quân, nguỵ quyền chỉ riêng đồng bào các dân tộc ở Đắc Lắc đã làm rã ngũ 1000 ngụy quân và 250 ngụy quyền cấp xã. Các địa phương khác như Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng... làm tan rã hàng chục đơn vị vũ trang của địch.

Phương thức chiến tranh nhân dân với 3 thứ quân được vận dụng trên chiến trường miền Nam và giành được những thắng lợi vẻ vang. Vùng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đã phát huy khả năng cách mạng, có nhiều công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hiện nay cả nước đang trên đường đổi mới, hội nhập và phát triển, Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách ưu tiên đầu tư như Chương trình 134, 135, 168, 139... làm cho đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số có những bước chuyển biến tích cực về mọi mặt. Những bài học lịch sử về đoàn kết và phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc trong kháng chiến vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nguyễn Thị Hiền

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,732,933


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs