Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/05/2009
Chiến thắng Điện Biên Phủ biểu tượng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc


Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân (1953-1954), quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bốn năm sau, kể từ ngày phải cay đắng chấp nhận đại bại trên chiến trường Điện Biên Phủ, tướng Hăngri Nava mới rút ra kết luận: phía Pháp thua vì “quân viễn chinh Pháp không những phải chống chọi với một đội quân chính quy, mà còn phải đương đầu với cả một dân tộc”. Năm năm tiếp theo, năm 1963, trong tác phẩm Trận Điện Biên Phủ, Giuyn Roa cũng thừa nhận “Không phải viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng Nava mà là những chiếc xe đạp thồ, chở 200-300kg do người đẩy”. Còn Ivonanhinét, ví von một cách chua xót: “...Máy bay của ta đã thua đội tổ dân công của Việt Minh”.

Như vậy, tuy có muộn, nhưng cuối cùng, những chính khách người Pháp cũng nhận ra một nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới chiến thắng Điện Biên Phủ, đó là sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân Việt Nam. Họ lấy hình ảnh những đôi bồ và những chiếc xe đạp thồ do người đẩy để diễn tả sự đồng lòng, dốc sức của cả một dân tộc cho một chiến trường với một quyết tâm giành thắng lợi. Song, họ không thể biết rằng đối với mọi người Việt Nam, trong mỗi thời kỳ lịch sử chống giặc ngoại xâm, nhất là từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bài học về đoàn kết luôn luôn là một bài học sống động, không ngừng được tiếp nối, nâng cao và có những ý nghĩa hết sức trọng đại.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống cực kỳ quý báu. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại bùng lên sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ; nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn; nó nhấn chìm tất cả bè lũ cướp nước bán nước. Lòng yêu nước nồng nàn đã hun đúc nên tình đoàn kết keo sơn và nhờ có đoàn kết mà nhân dân ta đã vượt qua tất thảy mọi gian nan, thử thách, viết nên những trang sử bất diệt; chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong số đó. Nhưng khác với kỳ tích trước nó, chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ thể hiện của sức mạnh đại đoàn kết, mà hơn nữa, nó là biểu tượng của sức mạnh đó. Biểu tượng ấy vừa có hàm ý nhấn mạnh tầm vóc to lớn của chiến thắng, cũng là quy mô của sức mạnh đại đoàn kết, lại vừa có hàm ý nói lên tính đúng đắn của tư tưởng đã tạo nên sức mạnh ấy.

Chúng ta đều biết, sau khi thực dân Pháp buộc nhân dân ta phải cầm súng, vượt qua những năm tháng khó khăn ban đầu để “bảo vệ cho được thành quả Cách mạng tháng Tám năm 1945, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân ta”. Để thực hiện mục tiêu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” mà Đảng, Bác Hồ đã chỉ đạo, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta đã huy động tới 261.453 dân công với 18.301.570 ngày công, 25.056 tấn gạo, 907 tấn thịt, 917 tấn lương thực khác, 20.991 xe đạp thồ, 1.800 mảng nứa và hàng nghìn con ngựa thồ. Ngoài ra, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ còn có hàng chục nghìn thanh niên xung phong và một nhân lực to lớn, của lực lượng nhân dân tại chỗ. Như vậy, so với các chiến dịch trước đó như: Chiến dịch Biên giới năm 1950, Trần Hưng Đạo năm 1951, Quang Trung năm 1951, Lý Thường Kiệt năm 1951, Hòa Bình năm 1952, Chiến dịch Thượng Lào mùa xuân năm 1953, số nhân lực được huy động phục vụ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là rất lớn. Số ngày công bằng hơn 62% tổng số ngày công của các chiến dịch (18.301.570 so với 29.485.900) và số lương thực, thực phẩm thì nhiều hơn gấp 5,6 lần tổng số cho các chiến dịch kia (26.880 tấn so với 4.750 tấn). Và đặc biệt hơn, khi chúng ta so sánh những con số đó với tình hình thực tế của một đất nước khi đó còn quá nghèo nàn, hết sức lạc hậu, lại đang phải tiến hành một cuộc kháng chiến cứu nước quyết liệt, thì mới thấy hết ý nghĩa lớn lao của nó, bởi vì đó là công sức đóng góp của các tầng lớp nhân dân trên hầu hết khắp đất nước. Có thể nói, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nhân dân cả nước đã đoàn kết nhất trí, đồng sức, đồng lòng, tất cả cho chiến trường, vì quyết tâm giành thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Trong tổng số 25.056 tấn gạo cung cấp cho chiến dịch, nhân dân Khu Tây Bắc đã đóng góp 7.311 tấn. Trong tổng số 1.824 tấn thịt và các loại lương thực, thực phẩm khác, nhân dân Khu Tây Bắc góp 389 tấn, Trong tổng số 261.453 dân công, nhân dân Khu Tây Bắc có 31.819 người. Ngoài ra, nhân dân Tây Bắc còn đóng góp toàn bộ số mảng nứa, toàn bộ số ngựa thồ phục vụ cho chiến dịch.

Nhân dân Tây Bắc, hiểu rất rõ giá trị từng hạt gạo, miếng thịt của mình gửi cho mặt trận. Bởi vì, nếu từ Liên khu IV, Liên khu III hay từ Liên khu Việt Bắc, dân công đưa lương thực, thực phẩm lên đến Cò Nòi, họ phải vượt qua một chặng đường dài 500-700 km với bao khó khăn nguy hiểm, thậm chí phải hy sinh cả xương máu. Nhưng tới nơi, số lượng mang đi chỉ còn một nửa thực sự tới tay bộ đội, còn nửa kia phải nuôi người vận tải trên suốt dọc đường. Nhân dân Tây Bắc cũng hiểu rất rõ những gian nan vất vả mà mình cố gắng khắc phục cho chiến thắng sẽ đỡ gấp nhiều lần nếu như nhân dân từ các vùng miền xuôi xa xôi phải đảm nhiệm. Do đó, đồng bào đã cố gắng đóng góp hết của mình. Đặc biệt là sự đóng góp của nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu (nay là hai tỉnh Điện Biên-Lai Châu), nơi trực tiếp diễn ra trận đánh Điện Biên Phủ. Tuy trận mạc gây nhiều khó khăn, phức tạp, cộng với những khó khăn thường nhật của một tỉnh miền núi cao, xa xôi hẻo lánh, nhưng nhân dân Lai Châu vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương tại chỗ của mình, phục vụ tốt nhất cho bộ đội đánh giặc. Chẳng những thế, nhân dân ở đây còn vận động nhau cung cấp cho chiến dịch 2.666 tấn gạo, vượt mức trên giao 64 tấn; 226 tấn thịt vượt mức 43 tấn; 112 tấn rau xanh; 16.972 người đi dân công với 517.210 ngày công; 348 ngựa thồ; 38 thuyền mảng; 25.070 cây gỗ chống lầy. Có địa phương, như Tuần Giáo, đã huy động tới 45 % tổng số lúa thu hoạch để cung cấp cho chiến dịch. Lại có những địa phương, như châu Điện Biên Phủ, nơi chiến đấu quyết liệt, cũng vẫn đóng góp 555 tấn gạo, 36 tấn thịt, 104 tấn rau, 38.000 ngày công.

Nhân dân các dân tộc thiểu số, không kể ở Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình; không kể là người Thái, Mông, Dao hay Hà Nhì... đều thi đua đoàn kết lập công. Đồng bào Mông ở Tủa Chùa, Điện Biên, Tuần Giáo,... tuy chỉ chuyên trồng ngô và sống bằng ngô, bằng sắn, vẫn có gạo đem đi đóng góp. Đồng bào Thái, Hà Nhì ở Mường Tè, Mường Lay còn dùng cả trâu để thồ rau, thồ gạo, thồ thịt đến tận nơi trú quân rồi giao tất cả cho “bộ đội Cụ Hồ”. Có người, đầu đội rau quả, lưng gùi gạo, tay xách gà, dắt lợn, trèo đèo, lội suối, đi không biêt bao nhiều “cái dao quăng” để trao tận tay cho các bếp. Lại có những nơi, phần do không làm kịp, phần do địch đánh phá, đồng bào cả vùng đều thoả thuận giao tất cả nương, rẫy lúa vàng cho các đơn vị tự thu hoạch, kịp làm gạo nuôi quân, rồi sau ghi sổ báo lại. Không chỉ góp của, đồng bào các dân tộc còn góp công, góp người. Trong tổng số hơn 26 vận dân công, người các dân tộc thiểu số đã tham gia tới gần 8,7 vạn người.

Tất cả đều hướng ra mặt trận. Các miền, các vùng, các địa phương thi đua với nhau. Công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, nhà buôn, rồi cả một số địa chủ, tư sản, ai ai cũng sẵn lòng đóng công góp của, đâu đâu cũng có phong trào ra quân rầm rộ. Họ không chỉ lo tròn bổn phận của mình, không chỉ đoàn kết động viên nhau, mà còn tương trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau. Biết đồng bào miền núi, do tập tục lạc hậu, chỉ biết dùng cối nước hay chày ta để làm gạo, vừa lại chậm không kịp thời, đồng bào miền xuôi đã huy động hàng nghìn tự đóng cối xay, cối giã lên giúp đồng bào miền núi làm gạo cho nhân. Ngược lại, biết đồng bào miền xuôi không quen lái thuyền, lái mảng ở những nơi suối sâu, thác cao, nước xiết, có khi lật thuyền mất hàng, huy sinh cả tính mạng, đồng bào các dân tộc miền núi đã tình nguyện đảm nhận tuyến trên bộ. Họ sát cánh bên nhau cùng xẻ núi, san đồi, đẵn gỗ, làm đường, cùng hợp lực phá hàng trăm thác lớn, nhỏ trên các dòng sông Đà, sông Nậm Na để mở lối cho quân đi, cho thuyền mảng chở hàng qua lại. Họ cùng chung vai tải thương, lo lắng công việc tử sĩ, liệt sĩ và động viên, cổ vũ bộ đội ở ngoài mặt trận.

Còn biết bao nhiêu hình ảnh cảm động. Nhờ thế, điều lo lắng nhất, cái khó khăn lớn nhất tưởng như khó vượt qua của Chiến dịch Điện Biên Phủ là công tác hậu cần chiến dịch đã được giải quyết. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đã giúp ta vượt lên tất cả. Tổng kết chiến dịch, việc cung ứng không chỉ đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ, mà còn dưa thừa một số lượng khá lớn. Nhưng thật không đầy đủ nếu cho rằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân chỉ thể hiện qua những khâu cung ứng trực tiếp cho chiến dịch. Còn nhiều vấn đề khác, tuy là phục vụ gián tiếp, nhưng không thể thiếu cho chiến thắng. Chẳng hạn, những hoạt động của các tầng lớp nhân dân trong cả nước nhằm ủng hộ, phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Để giảm bớt sức mạnh của địch ở Điện Biên Phủ, nhân dân các địa phương đã cùng tham gia và phục vụ tích cực cho các lực lượng vũ trang ta chủ động mở một loạt các chiến dịch tiến công địch trên nhiều hướng. Kết quả, đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng để đối phó, các đơn vị của chúng bị giam chân ở nhiều nơi, mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán của chúng vì thế càng thêm sâu sắc. Những cuộc tiến công vào các tuyến vận tải địch, đặc biệt là tuyến hàng không, đã gây cho chúng những thiệt hại nặng nề và hạn chế rất đáng kể khả năng tiếp tế của chúng cho Điện Biên Phủ. Trong cả nước, nhân dân các địa phương, từ Nam ra Bắc nhất tề vùng lên diệt ác, phá tề, giành quyền làm chủ. Những cuộc đấu tranh chính trị (mít tinh, biểu tình...), đấu tranh kinh tế (bãi chợ, đình công, công phá các cơ sở kinh tế địch...), đấu tranh trên mặt trận văn hóa... liên tiếp nổ ra, làm địch không lúc nào bình yên, luôn phải đối phó.

Chưa phải đã hết, song những con số, những sự kiện cơ bản trên cũng đã cho ta hình dung cụ thể về quy mô sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Tạo được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân như vậy cho chiến thắng Điện Biên Phủ là một thành công lớn. Thành công đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết phải nói, sức mạnh đó đã được huy động trên cơ sở tư tưởng đại đoàn kết do Hồ Chí Minh khởi xướng.

Đại đoàn kết toàn dân đã mang lại chiến thắng Điện Biên Phủ. Sức mạnh đó thật to lớn và tiêu biểu. Nó là kết quả của sự đoàn kết đóng góp của cả mọi tầng lớp nhân dân trên mọi miền đất nước, không phân chia dân tộc, tôn giáo, giàu nghèo, già trẻ gái trai. Nó là sức mạnh của cả một dân tộc ra trận, bằng sự tham gia trực tiếp trên các tuyến đường mặt trận, bằng cả những hoạt động nhằm phối hợp, ủng hộ mặt trận Điện Biên Phủ. Nó đã làm cho kẻ thù cuối cùng phải chấp nhận thất bại.

Bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc tiếp tục được phát huy trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và mãi mãi là nguồn sinh lực bất tận đất nước ta đi lên, xứng đáng với lịch sử chiến thắng vẻ vang mà Đảng ta, quân đội và nhân dân ta đã lập nên trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đinh Tiến Dũng
Phó Bí thư Tỉnh Uỷ- Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,299,900


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs