Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/05/2009
Dân tộc thiểu số và vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh


Trong nghiên cứu lý luận cách mạng, vấn đề dân tộc còn rất phong phú, còn phải bàn thêm. Nói riêng ở từng nước thì vấn đề dân tộc nổi lên là vấn đề số phận của từng tộc người trong cộng đồng dân tộc của một quốc gia.

Ở Việt Nam ta cũng vậy, chúng ta có đến 54 dân tộc quây quần, trong đó dân tộc Việt là bộ phận đông đảo, giữ vai trò chủ thể suốt ngàn năm lịch sử. Còn nhiều dân tộc khác như: Mường, Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông… ở miền Bắc, miền Trung, rồi các dân tộc ở Tây Nguyên, ở Nam Bộ như đồng bào Chăm, Hoa, Khmer, v.v. Mỗi dân tộc có cách làm ăn, cách sinh sống với những phong tục, những nề nếp khác nhau, nhưng đều là dân tộc Việt, trong cộng đồng Việt Nam ở mảnh đất Đông Nam á này. Tất cả đều có bổn phận chung với Tổ quốc Việt Nam, có nhiệm vụ chung đối với sự trường tồn của đất nước. Các dân tộc đa số hay thiểu số đều phải nắm vững quan điểm dân tộc mới mưu cầu được lợi ích, mới có thể đạt đến mức văn minh tiến bộ. Như vậy, vấn đề dân tộc mà chúng ta bàn đến là cho cả dân tộc đa số và thiểu số, cho cả cộng đồng. Thực hiện nhiệm vụ dân tộc lớn lao, thống nhất và mở mang cho toàn thể các dân tộc cũng là thực hiện nhiệm vụ ấy. Người lãnh đạo đất nước, cán bộ làm nhiệm vụ dân tộc không thể nào lơ là với vấn đề này. May mắn cho chúng ta có nhà lãnh tụ Hồ Chí Minh, là người đã có quan điểm dân tộc dồi dào minh triết.
 
 Phải thừa nhận một điều hạn chế trong lịch sử ta, rằng từ bao đời qua (cho đến Cách mạng Tháng Tám) những người thuộc dân tộc thiểu số ở nước ta không được trọng thị cho lắm.

Bà con sống ở vùng rừng núi xa xôi, không có điều kiện giao lưu và cũng thường bộc lộ những hạn chế về mặt sinh hoạt. Trình độ văn hoá không cao, những cái hay, cái đẹp (nhất là trong văn hoá dân gian) dẫu có dồi dài, song không được quan tâm lắm. Nhất là những công lao của các tù trưởng, của những thanh niên nam nữ hăng hái ở các bản mường, thường bị quên đi, hoặc không được mấy ai chú ý. Có một vài viên tướng xuất sắc được gọi về triều đình, hay ở trong quân ngũ thì cũng không gây được ảnh hưởng nhiều lắm, thậm chí còn bị coi thường. Các triều đại như nhà Lý, Trần, Lê, Tây Sơn, Nguyễn, đều có sử dụng những người dân tộc thiểu số, nhưng không có biểu hiện gì thật là sinh động. Đặc biệt những nhà lãnh đạo, có những người rất xuất sắc, mà cũng không thấy bộc lộ được gì tỏ ra là biết quan tâm đến những người dân tộc thiểu số. Một số vương triều có lưu ý tranh thủ các thủ lĩnh vùng núi, đảm bảo cả những quan hệ thông gia, thì cũng chỉ để được yên tâm về các vùng biên viễn chứ không xem họ là thành phần trong dân tộc, quốc gia. Các ông vua của các triều đại phong kiến ngày xưa, không có ai thân với những người thiểu số. Chỉ có vua Trần Nhân Tông là người độc nhất đi du lịch Chiêm Thành, nhưng ông chỉ đến với vương triều, chứ không đến với dân tộc.
 
 Trường hợp Hồ Chí Minh lại khác. Rất dễ thấy cụ Hồ có đường lối chính trị đúng đắn với các dân tộc thiểu số, không phải vì cụ Hồ muốn thi hành một chính sách, một chủ trương chính trị, mà thực sự cụ Hồ đã rất gắn bó với những con người này. Cụ Hồ đã sống chung với bà con dân tộc ít người, điều mà nhiều vị lãnh tụ, nhiều vị vua chúa không thể theo kịp (tất nhiên vì cụ Hồ đi hoạt động cách mạng nên có điều kiện hơn). Nhưng phải nói rằng rất đáng ngạc nhiên, vì sao một thanh niên lúc trẻ thì ở Vinh, Huế, Bình Thuận, Sài Gòn, rồi sau đó là ở nhiều nơi tại Pháp, Anh, Hoa Kì, Nga, v.v. lại có thể thông thuộc phong tục tập quán của người vùng núi ven biên giới Trung Quốc đến mức có thể đóng vai một ông thầy Tào, làm lễ cầu hôn cho bà con người Tày, Nùng. Ông đã sống chung với bà con Tày Nùng, hiểu biết tâm trạng của họ, thậm chí cả những cô cậu bé (Kim Đồng). Ông làm thơ, giải thích thơ cho những người trí thức dân tộc Nùng để dìu dắt họ đi làm cách mạng.
 
 Hồ Chí Minh thực sự gắn bó với bà con người dân tộc thiểu số (vùng Việt Bắc) nên ông thấy được phẩm chất, được trình độ của họ.
 
  Ông sáng suốt nhận ra rằng họ có tinh thần dân tộc, họ có khả năng làm cách mạng. Họ không được tổ chức, không được giáo dục, nên họ bị đối xử không công bằng. Họ cũng có thể giao thiệp thân cận với ông, tức là cũng có thể gắn bó được với toàn thể đồng bào cả nước. Nhờ có cuộc sống thực tế với người bình dân, người lao động và người thiểu số, nên ông phát hiện ra được điều ấy. Sự phát hiện để làm nên cái minh triết Hồ Chí Minh. Về đến quê nhà, sự tiếp cận này lại cho ông có được một minh triết thiết thực hơn, cụ thể hơn và địa phương hơn. Đó là sự minh triết trong vấn đề dân tộc thiểu số. Phải có cái minh triết này mà chủ trương đại đoàn kết mới thực hiện được trên đất nước ta. Với Hồ Chí Minh, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng nhau, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Sự quan tâm về vấn đề dân tộc, về chính sách dân tộc, không chỉ ở phần nhận thức, phần lý luận mà nó phải được thể hiện bằng đường lối, bằng tổ chức. Trong Chính phủ mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, để có người miền núi nắm chức Bộ trưởng (ông Chu Văn Tấn là Bộ trưởng Quốc phòng), điều này có lẽ là ít thấy trong nhiều nước ở cả á, Âu. Và việc thành lập bộ máy nhà nước chuyên trách về công tác dân tộc (Sắc lệnh số 58 ngày 3/5/1946) “chịu trách nhiệm xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”. Rất đáng lưu ý về cách viết, cách nói của bản sắc lệnh này. Hình như không phải chỉ là một dạng công văn hành chính, mà là một lời nhắc nhủ, một ý tâm tình làm toát lên tinh thần đại đoàn kết, đại thành công của chúng ta. Cũng như những lời kêu gọi, lời giáo dục khác của Bác Hồ, nó chứa đựng cả một tinh thần minh triết.
 
 Còn có thử suy nghĩ thêm rằng, việc chúng ta lấy ngày 3/5 hàng năm (theo ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh và việc thành lập Nha Dân tộc thiểu số 3/5/1946) làm ngày truyền thống của các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, cũng là một bằng chứng cho sự thấm nhuần của nhân dân ta, cũng là một minh triết Hồ Chí Minh trong vấn đề dân tộc.

GS Vũ Ngọc Khánh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,299,857


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs