Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Chuyện của "già làng" làm công tác dân tộc

 29/04/2009

Ông Cư Hòa Vần

Từ một cán bộ phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh của huyện Bắc Hà (Lào Cai), trong suốt những năm công tác sau này, ông Cư Hoà Vần đã được giao nắm giữ các trọng trách lãnh đạo tỉnh Lào Cai, Hoàng Liên Sơn (Phó Chủ tịch, Chủ tịch, Phó Bí thư Tỉnh uỷ); rồi đảm đương các chức vụ ở Trung ương (Trưởng ban Định canh định cư Trung ương, Phó Văn phòng Dân tộc và Miền núi, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội). Ông đã được bầu là đại biểu Quốc hội các khoá VI, IX, X. Từ năm 2004 đến nay, ông là Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Những đóng góp của ông đã được đồng bào các dân tộc đánh giá cao, đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý như: Huy chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhì...

Mỗi khi có cuộc họp bàn chính sách dành cho vùng đồng bào dân tộc, các đại biểu thường chờ đón một vị khách đặc biệt. Ông được coi là một trong những “cây đại thụ” lớn của lĩnh vực công tác dân tộc. Ở tuổi 75, nhưng hơn 2/3 quãng thời gian đó, ông đã sống, gắn bó và trải nghiệm tại vùng đồng bào dân tộc. Và chuyện của “già làng” Cư Hoà Vần, dân tộc Mông thường bắt đầu từ vùng đất Si Ma Cai xa xôi (thuộc tỉnh Lào Cai) - nơi ông sinh thành và hoạt động Cách mạng.

Gắn bó với cuộc vận động định canh định cư

Ông Cư Hoà Vần sinh ra ở một xã xa xôi nhất của Si Ma Cai - huyện mà thời đó muốn đi từ tỉnh Lào Cai xuống thì cũng phải mất vài ngày đường. Sau này, ông trở thành cán bộ của Đội Thiếu niên Tiền phong và tham gia hoạt động Cách mạng từ năm 15 tuổi. Đặc biệt, ông còn trở thành người được hầu hết đồng bào các dân tộc biết tới bởi tên tuổi gắn liền với cuộc vận động định canh định cư của Đảng từ những năm 70. “Là cuộc vận động lớn nhưng do tiềm lực kinh tế của đất nước còn hạn chế nên vận động nhân dân tự nguyện, tự giác định canh định cư là chính, nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nhỏ. Lúc đó, cán bộ vùng dân tộc như chúng tôi thường về với vùng đồng bào bằng tấm lòng hăng say, nhiệt tình để mong giúp đồng bào thoát khỏi cuộc sống du canh du cư, dần ổn định cuộc sống” – ông Vần bộc bạch. Với suy nghĩ đó, trong nhiều năm liền, ông đã đi, đến, cùng ăn, ngủ và vận động đồng bào ổn định định canh định cư ở nhiều tỉnh miền núi, vùng cao của cả nước.

Ở những vùng đã định canh định cư tại Tây Nguyên hiện nay, nhắc đến “già làng” định canh định cư Cư Hoà Vần, đồng bào vẫn nhớ đến với tình cảm sâu nặng. Bởi nhiều năm sau giải phóng, đồng bào chủ yếu sống du canh du cư, tự cấp tự túc, nhờ cuộc vận động (trong đó có nội dung tách hộ lập vườn) mà đồng bào đã tách hộ, phát triển vườn cà phê, vườn tiêu, điều... hình thành những vùng cây công nghiệp lớn, giúp hàng nghìn hộ ổn định cuộc sống. Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các cán bộ định canh định cư mang đến vùng đồng bào các giống cây, kỹ thuật trồng trọt, hình thành vùng cây ăn quả, vùng trồng chè, quế... cho đến tận hôm nay. Ông Vần tâm sự: “Thời gian đó, đến với vùng đồng bào chủ yếu đi bộ, rồi cùng ăn, ở với đồng bào. Tuy gian khổ nhưng tình cảm giữa cán bộ và đồng bào rất sâu sắc. Đồng bào coi những cán bộ định canh định cư như những người thân thiết trong gia đình. Về là đón, chia tay là bịn rịn. Thậm chí ngay cả khi có các thế lực xấu rình rập, gây nguy hiểm thì đồng bào che chở, đón tiếp các cán bộ định canh định cư rất nhiệt tình. Chúng tôi coi tình cảm đó là nguồn động viên lớn cho mình”.

Thời gian sau này, khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết 22 về phát triển kinh tế-xã hội miền núi, Trung ương đã điều ông sang làm Phó Chủ nhiệm Văn phòng Miền núi và Dân tộc cùng ông Hoàng Đức Nghi lúc đó là Chủ nhiệm . Các ông đã nghiên cứu và đưa ra tiêu chí miền núi, vùng cao để trình Chính phủ xét duyệt, ban hành.

Luôn lấy vùng đồng bào dân tộc làm trọng tâm công tác.

Sau này, ông Vần chuyển sang công tác tại Hội đồng Dân tộc Quốc hội. Ông tâm niệm, dù ở bất cứ cương vị công tác nào thì cũng luôn lấy vùng đồng bào dân tộc làm trọng tâm công tác. Thời gian đó, ông cùng các cán bộ đã tiến hành nhiều cuộc giám sát, trong đó có việc điều tra xem đầu tư của Nhà nước vào vùng đồng bào hiệu quả ra sao và thực chất đời sống các vùng đồng bào chênh lệch như thế nào. Kết quả giám sát cho thấy, ngân sách đầu tư vào vùng đồng bào rất lớn nhưng hiệu quả chưa cao vì đầu tư phân tán, dàn trải cùng lúc nhiều chương trình. Thứ hai là khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc lớn, có dân tộc đói nghèo 4%, có dân tộc lên đến 93%. Từ đó, ông kiến nghị cần đầu tư tập trung và tìm cách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc.

Thời điểm đó, Uỷ ban Dân tộc ban hành tiêu chí phân định 3 trình độ phát triển tương ứng vùng đặc biệt khó khăn, vùng phát triển nhưng còn khó khăn và vùng đã phát triển. Sau này, Chính phủ đã ban hành Quyết định 135 hay còn gọi là Chương trình 135 và giao cho Uỷ ban Dân tộc chủ trì cho đến nay. Nhờ sự đầu tư hiệu quả từ Chương trình mà vùng đồng bào đã khác trước rất nhiều. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà cho đến nay, đời sống vật chất và tinh thần vùng đồng bào vẫn còn nhiều khó khăn, thiệt thòi. Điều đó cũng đặt ra những thử thách cho người làm công tác dân tộc

“Thế hệ những người làm công tác dân tộc hiện nay có ưu thế và điều kiện hơn trước rất nhiều. Và ở vị trí nào, tôi nghĩ, chúng ta cũng cần một lòng hướng về vùng đồng bào. Bởi đối với mỗi vùng đất, con người thì chỉ khi chúng ta thực sự tâm huyết, gắn bó, hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của đồng bào thì những khó khăn, trăn trở tại vùng đó mới dần được tháo gỡ, giải quyết” – ông Vần chia sẻ.

Những tình cảm của cán bộ công tác dân tộc dành cho ông Cư Hoà Vần:

“Đồng bào Phú Yên rất cảm động trước tình cảm của đồng chí Cư Hoà Vần”

Ông Trần Văn Sơn, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Phú Yên:

Trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án dành cho vùng dân tộc, đồng chí Vần là người rất có kinh nghiệm, là một “già làng” của vùng đồng bào. Khi về với Phú Yên, đồng chí Vần đã về tận vùng đồng bào sâu xa, vùng chiến khu cách mạng để nắm tình hình đời sống vật chất đồng bào sau ngày giải phóng đến nay đã thay đổi thế nào. Đồng chí thường nhắc các cán bộ chúng tôi rằng, vùng đồng bào dân tộc là vùng căn cứ cách mạng, là “cái nôi” của cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đồng bào dân tộc là người ủng hộ, giúp đỡ để đưa cách mạng, quân đội vào giải phóng đất nước. Đồng chí thường dặn dò thế hệ các cán bộ làm công tác dân tộc dù ở cương vị nào cũng cần quan tâm, tăng cường đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng. Những lời nhắc nhở của đồng chí khiến Đảng bộ, nhân dân vùng sâu, vùng xa Phú Yên luôn nhớ và cảm động.

“Bác Vần có rất nhiều chia sẻ với vùng đồng bào dân tộc”

Ông Long Hữu Phúc, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Hà Giang:

Trong quá trình công tác, tôi biết bác Vần là người dân tộc Mông vùng khó khăn nên rất am hiểu công tác dân tộc, định canh định cư. Hơn nữa, bác còn rất nhiệt tình với công tác dân tộc và có nhiều chia sẻ với vùng đồng bào dân tộc tỉnh Hà Giang về nhiều mặt. Đối với chương trình 135, bác đã có nhiều đóng góp, tham vấn rất thiết thực cho chương trình. Hiện nay, đồng bào cơ bản đã định canh định cư, nhưng để ổn định định canh định cư lâu dài cho đồng bào thì những người làm công tác dân tộc như tôi cũng mong nhận được nhiều kinh nghiệm quý báu từ những người rất tâm huyết với công tác dân tộc như bác Vần.

“Bác Vần là người vừa có tâm, vừa có tầm”

Ông Nguyễn Khoa Lai, Trưởng Ban Dân tộc Gia Lai:

Tôi có 28 năm công tác dân tộc nên thấy được nhiều tâm huyết của bác Vần đối với công tác này. Khi về với vùng đồng bào dân tộc Tây Nguyên, bác không ngại khó, ngại khổ để đến những nơi khó khăn nhất, nhờ đó, những đóng góp, đề xuất của bác về chính sách dành cho vùng đồng bào rất sát thực và có hiệu quả. Chúng tôi luôn kính trọng và biết ơn những đóng góp của bác đối với công tác dân tộc. Có thể nói, bác Vần là người vừa có tâm, vừa có tầm trong công tác, rất đáng để thế hệ cán bộ trẻ học tập, noi theo.

“Làm báo cho đồng bào phải viết sao cho dễ đọc...”

Nhà báo Đinh Hoàng, Báo Dân tộc và Phát triển: Tôi đã từng nghe ông nói chuyện tại nhiều hội nghị, hội thảo liên quan đến vùng đồng bào dân tộc; nghe ông giảng bài ở lớp học đào tạo ngắn ngày về công tác dân tộc; từng nghe nhiều đồng nghiệp nói, viết về ông. Đặc biệt, với sự hiểu biết sâu sắc về các lĩnh vực trong cuộc sống, phong tục tập quán, bản sắc văn hoá các dân tộc, ông đã góp ý cho “tờ báo của đồng bào” cả về nội dung, hình thức, chất lượng thông tin, cách trình bày. Vào dịp sau Tết Bính Tuất (năm 2006), tôi tâm đắc và trăn trở đến giờ khi nghe ông nói: “Viết cho đồng bào đọc phải dễ đọc, dễ làm theo...”. Ông nói ngắn gọn, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ. Ông luôn lắng nghe, nghe kỹ càng người khác trình bày về một vấn đề, chứ không cắt ngang, không tỏ ý sốt ruột, mệt mỏi. Một lần, được nghe ông giảng bài, tôi cứ nghĩ, chính ông mới là “giáo sư” thực sự. Khi nghe ông nói về “viết sao cho đồng bào dân tộc dễ đọc”, thì tôi thấy mình “lớn khôn lên một chút”, khi không còn trẻ. Cứ mỗi lần nhớ về ông, tôi thầm nghĩ, mong sao ông mạnh khoẻ, trường thọ, để được nghe ông nói, ông trò chuyện. Ông rất bình dị, sống đời thường, dễ gần, nhưng toả ra từ ông là một phong cách tư duy độc lập, quyết đoán, lối ứng xử văn hoá, thanh cao...

Ngọc Thuý (thực hiện)

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Sứ mệnh vẻ vang, trách nhiệm nặng nề (04/2009)
  •  
  • Một số hoạt động đối ngoại của Ủy ban Dân tộc (04/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,470,917


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs