Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Những mốc son đáng nhớ trong 63 năm qua

 29/04/2009

Phó Chủ nhiệm Bế Trường Thành (người đầu tiên, bên phải) tặng quà hộ nghèo tại huyện Hạ Lang (Cao Bằng).

Tham mưu cho Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành của cả hệ thống chính trị, trong đó các cơ quan công tác dân tộc (CQCTDT) với chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất, xây dựng và tham gia hoạch định hệ thống chính sách dân tộc; chủ trì và phối hợp cùng các ngành các cấp triển khai thực hiện chính sách Dân tộc của Đảng và Nhà nước. Sau đây xin tóm tắt những mốc son đáng nhớ trong 63 năm qua về nhiệm vụ và tổ chức của CQCTDT.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, CQCTDT của Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà là Nha Dân tộc thiểu số, với chức năng, nhiệm vụ: “Xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”, (Sắc lệnh số 58, ngày 03 tháng 5 năm 1946 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà). Đây là mốc son đầu tiên - ngày 03/5/1946 - thành lập cơ quan dân tộc đầu tiên, tiền thân của Uỷ ban Dân tộc ngày nay. Một trong những việc đầu tiên của Nha Dân tộc thiểu số là mở trường đào tạo cán bộ dân tộc mang tên “Nùng Chí Cao”, khoá học đầu tiên tại Hà Nội được Bác Hồ đến thăm. Lớp cán bộ do Trường đào tạo sau đó toả đi khắp cả nước, tham gia công tác trên nhiều lĩnh vực, phục vụ kháng chiến kiến quốc. Nha Dân tộc thiểu số đã thực hiện vận động đồng bào các dân tộc nhận rõ âm mưu chia rẽ của kẻ thù, tập hợp nhân dân tham gia các đoàn thể, đẩy mạnh tăng gia sản xuất bảo vệ cơ sở cách mạng, làm cho vùng dân tộc thật sự là chỗ dựa vững chắc của Trung ương Đảng và Chính phủ về công tác dân tộc. Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vùng dân tộc và miền núi trở thành căn cứ địa vững chắc cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Năm 1947, tổ chức Nha Dân tộc thiểu số chuyển thành Tổ Nghiên cứu dân tộc thuộc Ban Mặt trận - Dân vận Trung ương để phù hợp với tình hình mới “Mọi ngành công tác ở vùng đồng bào thiểu số phải có kế hoạch riêng, không chỉ đặt kế hoạch, chỉ thị chung như từ trước tới nay. Mỗi vùng thiểu số trong nước cần lập một Ban vận động đồng bào thiểu số để nghiên cứu kế hoạch cho sát, đặc biệt chú ý mở trường đào tạo cán bộ thiểu số riêng như khu V, khu XIV đã làm. Phổ biến những kinh nghiệm quý báu về vấn đề vận động đồng bào thiểu số của khu V và khu XIV, Chính phủ phải có một quỹ đặc biệt chi về việc vận động và giúp đỡ đồng bào thiểu số”(1). Bộ phận nghiên cứu chính sách dân tộc bước đầu có những tổng kết hoạt động thực tiễn giúp Trung ương có những điều chỉnh nội dung, phương pháp công tác dân tộc (CTDT), đặc biệt là chuẩn bị cho việc xác định đường lối, chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc tại Đại hội II của Đảng (tháng 0l/1951) và Nghị quyết của Bộ Chính trị về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng ta” (tháng 8/1952)... Trải qua 9 năm kháng chiến, kết quả CTDT đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp chung do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, tiến hành kháng chiến thắng lợi, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá I (năm 1959) thông qua đề án thành lập Uỷ ban Dân tộc thuộc Hội đồng Chính phủ, có quyền hạn và trách nhiệm ngang Bộ “Uỷ ban Dân tộc có nhiệm vụ giúp Chính phủ nghiên cứu và thực hiện chính sách dân tộc nhằm tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng tương trợ và tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số tiến bộ mau chóng về mọi mặt theo CNXH”(2). Trước đó, ở miền Nam, CQCTDT đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục, các tỉnh Tây Nam bộ thành lập “Ban Khmer vận”... CTDT ở miền Bắc có những điều chỉnh về nội dung hoạt động và bộ máy tổ chức: Năm 1955 thành lập “Tiểu ban Dân tộc ở Trung ương”, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Bí thư Trung ương, về chính quyền bộ máy CQCTDT trực thuộc Phủ Thủ tướng và đặt trong Ban Nội chính. Từ đây CQCTDT có 2 chức năng: Tham mưu cho Trung ương Đảng về vấn đề dân tộc và giúp Chính phủ thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước về lĩnh vực dân tộc. Ngày 06 tháng 3 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 102/TTg, quy định nhiệm vụ của Uỷ ban Dân tộc Chính phủ. Như vậy, có thể coi đây là mốc son thứ hai (đến nay tròn 50 năm) Uỷ ban Dân tộc là cơ quan Chính phủ có trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan ngang Bộ.

Quốc hội khoá II (1960- 1964) đã thành lập Uỷ ban Dân tộc của Quốc hội (từ khoá II đến khoá VI). Từ năm 1960 có 3 cơ quan công tác dân tộc của Trung ương Đảng (Ban dân tộc Trung ương) của Chính phủ Ủy ban Dân tộc Chính phủ) và của Quốc hội (Uỷ ban Dân tộc Quốc hội từ 1960-1981 và từ 1981 đến nay là Hội Đồng Dân tộc). Năm 1974, Ban Bí thư Trung ương ra Quyết định số 38/QĐ-TW, ngày 14/5/1974 quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức Ban Dân tộc Trung ương “là cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương về vấn đề dân tộc ít người” theo đó ở các tỉnh có Ban Dân tộc giúp cấp uỷ theo dõi, kiểm tra và tổng hợp tình hình chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và chủ trương của cấp uỷ về vấn đề dân tộc. Năm 1987 Hội đồng Nhà nước ra Quyết định số 78/HĐNN, ngày 16/2/1987 giải thể Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ, Ban Bí thư Trung ương ra Quyết định số 62/QĐ-TW ngày 25/8/1988 về chức năng, nhiệm vụ của Ban Dân tộc Trung ương “có chức năng tham mưu, tổng hợp cho Trung ương Đảng về công tác dân tộc thiểu số và có nhiệm vụ nghiên cứu, tổng hợp các vấn đề dân tộc và CTDT, kiến nghị Trung ương Đảng những vấn đề về chủ trương, chính sách đối với các dân tộc thiểu số. Kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về vấn đề dân tộc thiểu số ở các cấp uỷ đảng, các tổ chức chính quyền và đoàn thể. Làm công tác tổ chức cán bộ theo quy định của Trung ương. Phối hợp Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu công tác xây dựng Đảng ở vùng dân tộc thiểu số và xây dựng chính sách đối với cán bộ dân tộc thiểu số. Hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ làm CTDT ở các ngành và bộ phận chuyên trách làm CTDT của các cấp ủy địa phương...”. Đây là văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức cơ quan CTDT rõ và đầy đủ hơn trước đây. Mô hình tổ chức này hoạt động tới năm 1992, khi Bộ Chính trị quyết định hợp nhất hai cơ quan Ban Dân tộc Trung ương và Văn phòng Miền núi và dân tộc (thành lập tại Quyết định số 147/CT, ngày 11/5/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) để thành lập Uỷ ban Dân tộc và Miền núi của Chính phủ; lập Ban Cán sự Đảng Uỷ ban Dân tộc và Miền núi làm nhiệm vụ tham mưu cho Đảng về CTDT và miền núi (Thông báo số 33/QB-TW, ngày 5/10/1992 của Ban Bí thư Trung ương). Đây là kết quả của quá trình thực hiện CTDT cùng với việc kiện toàn tổ chức CQCTDT, trong đó có mốc quan trọng là Nghị quyết số 22/NQ-TW, ngày 27/11/1989 “về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi”. Đây là văn kiện quan trọng của Đảng, mở đường cho sự đổi mới hoạt động CTDT: “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với miền núi; kiện toàn tổ chức và tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ của các cơ quan tham mưu, đủ sức giúp Trung ương cả trong thực hiện chính sách dân tộc, chính sách kinh tế, xã hội ở miền núi...”.

Uỷ ban Dân tộc và Miền núi hoạt động theo quy định tại Nghị định số 11/CP, ngày 20/2/1993 của Chính phủ, đến năm 1998 tiếp tục được kiện toàn về tổ chức theo Nghị định số 59/1998/NĐ-CP, ngày 13/8/1998 của Chính phủ “là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi trong phạm vi cả nước, đồng thời là cơ quan tham mưu cho Trung ương Đảng về chủ trương, chính sách đối với các dân tộc thiểu số và miền núi”. Để thực hiện chức năng vừa là cơ quan quản lý Nhà nước, vừa làm tham mưu cho Trung ương Đảng về CTDT, ngày 05/6/1998 Ban Tổ chức Trung ương có Công văn số 657/TC-TW thông báo ý kiến của Thường vụ Bộ Chính trị bổ sung một số quy định: “... Nghiên cứu, tổng hợp các vấn đê dân tộc, miền núi, kiến nghị với Trung ương Đảng những chủ trương, chính sách đối với miền núi và các dân tộc thiểu số... làm công tác tổ chức và cán bộ theo quy định của Trung ương, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu công tác xây dựng Đảng ở vùng dân tộc thiểu số và xây dựng chính sách đối với cán bộ dân tộc, miền núi... Con dấu của Ban Cán sự Đảng Uỷ ban Dân tộc và Miền núi dùng để quan hệ và làm việc với các Ban Cán sự Đảng, Đảng Đoàn ở Trung ương và cấp uỷ địa phương như một Ban của Đảng, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi được dự các cuộc họp giao ban thường vụ, thường trực Bộ Chính trị với các Ban Đảng theo định kỳ; được tiếp nhận thông tin của Văn phòng Trung ương như các Ban Đảng ở Trung ương”.

Năm 2002, theo Nghị quyết kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XI, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi trở lại với tên gọi ban đầu (từ năm 1959) - UỶ BAN DÂN TỘC và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 51/2003/NĐ-CP, ngày 16/5/2003 của Chính phủ: “Uỷ ban Dân tộc là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ có chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực CTDT trên phạm vi cả nước...”. Về tổ chức, cán bộ có một số điểm mới: Uỷ ban Dân tộc có các Uỷ viên kiêm nhiệm là đại diện Lãnh đạo một số Bộ, ngành (theo Quyết định số 233/QĐ-TTg, ngày 02/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ) gồm Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Lao động Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư, Văn hoá Thông tin, Giáo dục và Đào tạo, Nội vụ và Ban Tôn giáo Chính phủ. Hệ thống cơ quan công tác dân tộc ở địa phương được thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 53/2004/NĐ-CP, ngày 18/2/2004 của Chính phủ, theo đó 52 tỉnh đã thành lập CQCTDT cấp tỉnh và hơn 300 Phòng Dân tộc huyện. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 122/2003/QĐ-TTg, ngày 12/6/2003 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc (Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 12/3/2003) và Quyết định số 1277/QĐ-TTg, ngày 07/12/2005 phê duyệt Đề án “Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý Nhà nước và phương thức công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010”. Đây là những văn bản quan trọng, đánh dấu những bước tiếp tục đổi mới CTDT cả về nội dung, phương thức và tổ chức bộ máy của hệ thống CQCTDT từ Trung ương đến địa phương. Tiếp tục nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII (2007-2011) CQCTDT của Chính phủ tổ chức và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 60/2008/NĐ-CP, ngày 09/5/2008, của Chính phủ “là cơ quan ngang Bộ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về CTDT trong phạm vi cả nước”. Uỷ ban Dân tộc có các thành viên gồm: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban, các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban và các thành viên khác là Thứ trưởng các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nội vụ, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Lao động Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo, Văn hoá- Thể thao và Du lịch, Tài nguyên và Môi trường.

Kết quả CTDT và tổ chức hoạt động của hệ thống CQCTDT trong 63 năm qua với những đóng góp cả về nghiên cứu lý luận và chỉ đạo thực tiễn, nhiệm vụ CTDT trong giai đoạn tới, kế tiếp chặng đường lịch sử đã qua, đặt ra cho CQCTDT trách nhiệm hết sức to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, tạo ra bước tiến bộ mới với những thành tựu mới trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 “Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, mỗi cán bộ nhân viên trong hệ thống cơ quan làm CTDT phải rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng và không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Cơ quan làm CTDT cần vươn lên ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, nâng cao hiểu biết toàn diện về tình hình các dân tộc, CTDT và chất lượng tham mưu, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao, đáp ứng nguyện vọng và niềm tin yêu của nhân dân các dân tộc thiểu số(3), góp phần tích cực vào quá trình hiện thực hoá thực tiễn sinh động, khẳng định rằng ở nước ta “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”(4).

TS. Bế Trường Thành


(1) Văn kiện của Đảng về Mặt trận Dân tộc thống nhất, NXBST-Hà Nội 1971, trang 163.
(2) Sắc lệnh số 017/SL, ngày 6/3/1959 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
(3) Nông Đức Mạnh - 60 năm Cơ quan công tác dân tộc, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 14.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội X, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 121.

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Phó Chủ nhiệm Sơn Phước Hoan: "Cần có chính sách quan tâm kịp thời đối với người làm công tác dân tộc" (04/2009)
  •  
  • Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Nông Quốc Tuấn: "Tôi chia sẻ khó khăn với cơ quan, phóng viên làm báo cho đồng bào dân tộc thiểu số" (04/2009)
  •  
  • Chuyện của "già làng" làm công tác dân tộc (04/2009)
  •  
  • Sứ mệnh vẻ vang, trách nhiệm nặng nề (04/2009)
  •  
  • Một số hoạt động đối ngoại của Ủy ban Dân tộc (04/2009)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,924,024


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs