Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/09/2008
Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Trà Vinh tích cực tạo nguồn cán bộ dân tộc


Học sinh trường Tiểu học Long Hiệp 1 (Trà Cú - Trà Vinh) tập thể dục giữa giờ.

Trà Vinh là một tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống chiếm tỷ lệ 30% dân số toàn tỉnh, tập trung đông nhất là huyện Trà Cú, Cầu Ngang, Cầu Kè, Tiểu Cần.

Ngay sau khi tái lập tỉnh (5/1992) tỉnh Trà Vinh đã quan tâm đến công tác phát triển giáo dục dân tộc. Đến nay số trường lớp phát triển đến các ấp, xã vùng sâu, vùng dân tộc, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được đi học theo hệ thống giáo dục phổ thông, tỷ lệ học sinh dân tộc Khmer hàng năm chiếm khoảng 30% so tổng số học sinh chung toàn tỉnh. Đặc biệt đối với hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, thực hiện Quyết định 2590/GĐ-ĐT ngày 14/8/1997 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tổ chức hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú và Chỉ thị số 07/CT/UBT ngày 28/2/1997 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tăng cường công tác giáo dục vùng đồng bào dân tộc, đến nay đã có 5 trường phổ thông dân tộc nội trú huyện bậc trung học cơ sở do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện quản lý và 01 trường tỉnh bậc trung học phổ thông do Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý.

Đây là trường chuyên biệt dành cho thanh, thiếu niên dân tộc thiểu số với nhiệm vụ tạo nguồn, đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có trình độ cho vùng dân tộc, học sinh của trường được nhà trường nuôi dạy và bảo đảm các điều kiện để phát triển.

 Trên cơ sở hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú hàng năm, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao chỉ tiêu cho các trường cấp huyện tuyển 200 học sinh vào lớp 6 và trường tỉnh tuyển 130 học sinh vào lớp 10, đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số có hộ khẩu của bản thân và gia đình ở khu vực tuyển sinh từ 3 năm trở lên, có đủ điều kiện về hạnh kiểm, học lực, sức khỏe và độ tuổi; trước năm học 2005-2006 tuyển học sinh với hình thức xét tuyển, từ năm học 2006-2007 được thực hiện với hình thức thi tuyển, chỉ tiêu tuyển sinh của từng trường được giao cho từng huyện, thị xã và huyện - thị giao cụ thể đến từng xã, phường. Đến nay, mỗi trường dân tộc nội trú huyện có 04 lớp và 160 học sinh, trường dân tộc nội trú tỉnh có 12 lớp và có trên dưới 380 học sinh, hầu hết là học sinh người dân tộc Khmer trong tỉnh.

 Chế độ, chính sách cho cán bộ, giáo viên ngoài lương và phụ cấp như cán bộ, giáo viên ở các trường phổ thông còn được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi, được hưởng 70% mức lương hiện hưởng, phụ cấp trách nhiệm là 0,3% mức lương tối thiểu; Học bổng của học sinh được điều chỉnh qua từng giai đoạn: 120.000đ/tháng/học sinh và hiện nay mỗi học sinh đang hưởng mức học bổng 360.000 đồng/tháng/học sinh. Ngoài học bổng học sinh còn được hưởng các chế độ hỗ trợ khác như miễn học phí và các loại lệ phí thi, tuyển sinh, tiền tàu xe nghỉ hè hoặc nghỉ tết; hỗ trợ học phẩm; tiền điện nước, bảo hiểm y tế theo quy định của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

 Nội dung dạy học đảm bảo đúng nội dung chương trình, sách giáo khoa hiện hành đối với từng bậc học; các trường đều tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. số giờ còn lại trong tuần dùng để phụ đạo các học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi, học ngữ văn Khmer. Môn học ngữ văn Khmer được bố trí học 3 tiết/tuần đối với các lớp 6, 7, 8, 10, 11 và 2 tiết/tuần đối với lớp 9, 12. Từ đó, chất lượng đào tạo hàng năm đều được tăng lên, tính trung bình năm học 2003 đến 2008 xếp loại học lực học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú bậc trung học cơ sở có tỷ lệ giỏi, khá 38,9%, trung bình 53,3%, yếu kém 7,8% và tỉ lệ tốt nghiệp đạt 98%; học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú bậc trung học phổ thông có tỷ lệ giỏi, khá: 30,9%, trung bình 58,2%, yếu kém 10,9% và tỷ lệ tốt nghiệp là 95,6%. Riêng năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở của trường phổ thông dân tộc nội trú huyện 100%, tỷ lệ tốt nghiệp học trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh 96,6%. Trong 5 năm (2003-2008) tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào đại học, cao đẳng là 41,3% và trung cấp chuyên nghiệp là 20,7%, về địa phương là 41,3%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục vào học trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh và các trường phổ thông khác là 97,5%, về địa phương chưa được đào tạo nghề là 2,5%. Trong môi trường tập thể, học sinh được sinh hoạt và rèn luyện trong tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh; Tỷ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt của các trường thường xuyên trên 90%, không có học sinh hạnh kiểm yếu. Hàng năm, công tác hướng nghiệp được triển khai đối với số học sinh chuẩn bị tốt nghiệp bằng các hình thức như tọa đàm, hướng dẫn các em lựa chọn nghề phù hợp với khả năng; Việc dạy nghề phổ thông trung học vào các nhóm nghề như điện dân dụng, vi tính.

 Đội ngũ giáo viên của trường được đào tạo cơ bản, có năng lực quản lý, có uy tín trong tập thể sư phạm và học sinh, nắm vững chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Năm học 2007-2008, các trường phổ thông dân tộc nội trú trong tỉnh có 181 cán bộ, giáo viên, công nhân viên, trong đó có 12 cán bộ quản lý, 136 trực tiếp giảng dạy.

 Việc tổ chức nuôi dạy học sinh tại ký túc xá của các trường được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo cho học sinh điều kiện học tập, ăn ở sinh hoạt an toàn. Các hoạt động như luyện tập thể dục, thể thao, vui chơi, giao lưu văn nghệ được thường xuyên tổ chức đã tạo được không khí vui tươi, lành mạnh trong cuộc sống tập thể ở trường. Các trường đều có phòng học cho việc dạy học 2 buổi/ngày, có nhà hiệu bộ, phòng thư viện, phòng thí nghiệm. Năm học 2007-2008, xây dựng hoàn thành 6 phòng ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, gồm 4 phòng học, 2 phòng chức năng, đang tiến hành xây dựng thêm trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Duyên Hải.

 Tuy nhiên, hệ thống trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Trà Vinh còn một số vấn đề bất cập như: Việc quản lý học sinh sau khi tốt nghiệp chưa được chú trọng, vì vậy số học sinh tốt nghiệp trường phổ thông dân tộc nội trú trở về địa phương chưa được sử dụng vào các công việc cụ thể cũng như chưa được tiếp tục đào tạo bồi dưỡng để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương; Một số chính sách như: định mức kinh phí cho các hoạt động tham quan, hoạt động ngoài giờ, trang cấp hiện vật lần đầu, chế độ lễ, tết, khen thưởng cho học sinh theo Thông tư liên bộ 126/1998/TTLT/BTC-BGD-ĐT, ngày 9/9/1998 không phù hợp với sự biến động giá cả hiện nay; Việc cấp kinh phí cho các trường phổ thông dân tộc nội trú huyện chưa kịp thời, ảnh hưởng đến việc chi trả chế độ học bổng cho học sinh. Từ đó, các trường có kiến nghị với Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo nên điều chỉnh chế độ hỗ trợ học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú cho phù hợp với biến động giá cả hiện nay; Đề nghị quy mô trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện bậc trung học cơ sở có số học sinh từ 200 học sinh đến 250 học sinh; trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh có quy mô 450 học sinh đến 500 học sinh. Đối với các huyện có đông đồng bào dân tộc phát triển thành trường cấp II, III hoặc phân hiệu của trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh với quy mô học sinh từ 150 học sinh đến 200 học sinh. Nên sửa đổi, bổ sung và ban hành quy chế mới về tổ chức hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú, thay cho Quyết định số 2590/GD-ĐT (vì hiện nay một số điểm không còn phù hợp); Hướng dẫn biên soạn, bổ sung những nội dung về văn hóa dân tộc để phục vụ công tác giảng dạy trong các trường phổ thông dân tộc nội trú. Bên cạnh đó tỉnh Trà Vinh cũng cần có kế hoạch quản lý, đào tạo, sử dụng học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú sau khi tốt nghiệp ra trường; Tăng chỉ tiêu tuyển sinh bậc trung học cơ sở cho trường phổ thông dân tộc nội trú huyện, hàng năm từ 40 học sinh trở lên để đảm bảo đến năm học 2011-2012 mỗi khối lớp từ 6 đến 9 có lớp học với quy mô 240 học sinh đến 250 học sinh.

Thạch Samy

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 60,836,533


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs