Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/09/2008
Đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa
Miền núi Thanh Hóa có 11 huyện, dân số gần 1,1 triệu người và có trên 500.000 lao động là con em của 8 dân tộc thiểu số thuộc 221 xã, cư trú trên diện tích tự nhiên là 8,8 triệu ha (chiếm 71,8% diện tích tự nhiên toàn tỉnh).

 Trong những năm qua công tác đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số ở miền núi được các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm. Hiện tại, ngoài Trường Trung cấp nghề miền núi còn có 3 Trung tâm dạy nghề của 3 huyện và 7 Trung tâm giáo dục thường xuyên. Theo đó có tới 25 nghề và nhóm nghề đang được các cơ sở đào tạo nghề đào tạo và nhóm nghề được nhiều học sinh theo học là kỹ thuật điện, may công nghiệp, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi. Với nhiệm vụ đào tạo nghề cho thanh niên và người lao động của 11 huyện miền núi của tỉnh, các cơ sở dạy nghề đã vận dụng linh hoạt nhiều loại hình đào tạo và theo các trình độ khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu của người học nghề và nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp.

Việc thu hút được người lao động đến các cơ sở đào tạo dạy nghề ngày một tăng là do công tác tuyên truyền, định hướng nghề nghiệp ở các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị đã từng bước làm cho người lao động, đặc biệt là thanh niên có những chuyển biến về học nghề. Nhiều người dân tộc thiểu số đã nhận thức được sự cần thiết phải có trình độ nghề nhất định mới kiếm được tiền để khỏi đói nghèo, con cái mới được học hành ngày càng nhiều thêm. Đặc biệt, từ khi thực hiện chương trình 135, các xã miền núi được đầu tư xây dựng hệ thống điện nhu cầu học nghề để sử dụng điện tăng cao, một bộ phận sau khi tốt nghiệp được sử dụng quản lý vận hành hệ thống lưới điện của xã, làng, bản; một bộ phận mở các dịch vụ có sử dụng nguồn năng lượng điện cho sản xuất để tăng thu nhập, nâng cao đời sống. Các cơ sở dạy nghề từng bước đã gắn dạy nghề với giải quyết việc làm thông qua việc liên kết với các doanh nghiệp để tìm việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người học nghề và thu nhập đó đã thực sự cao hơn so với người lao động không học nghề.

Mặt khác do nhu cầu sử dụng lao động có nghề tại các cụm nghề thủ công xuất khẩu tập trung tại các thị trấn, thị tứ và khu quy hoạch đô thị Miền tây Thanh Hóa đang thu hút lượng lao động lớn.

Tuy nhiên, mạng lưới cơ sở đào tạo nghề còn mỏng, phòng học lý thuyết, xưởng thực hành còn tạm bợ, thiết bị cho học nghề còn thiếu và chưa đồng bộ nên chưa thể đáp ứng được yêu cầu của công tác đào tạo. Người miền núi sống trên một địa bàn rộng, xa trường, đi lại khó khăn nhưng nhà ở nội trú cho học sinh học nghề chưa có. Đây là yếu tố tác động rất lớn đến người học nghề khi lựa chọn học hay không học do phải có tiền thuê nhà ở. Đội ngũ giáo viên dạy nghề thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa đảm bảo về cơ cấu giữa giáo viên lý thuyết và thực hành; thiếu kinh nghiệm thực tế sản xuất và sự hiểu biết phong tục tập quán của đồng bào dân tộc miền núi, yếu về ngoại ngữ, khả năng tiếp cận với công nghệ tiên tiến còn chậm; tư duy của cán bộ quản lý dạy nghề chưa thực sự đổi mới và hội nhập; chế độ cho giáo viên dạy nghề ở miền núi còn thấp chưa thực sự thu hút được người có trình độ cao, có kinh nghiệm tham gia vào hoạt động dạy nghề. Nguồn lực đầu tư cho các cơ sở dạy nghề nói chung và miền núi nói riêng còn hạn hẹp, chưa tập trung và thiếu đồng bộ.

Để tăng nhanh số lượng và chất lượng lao động được qua đào tạo nghề, nhất là đối với lực lượng lao động trẻ (trung bình có khoảng 10.000 học sinh/năm tốt nghiệp trung học phổ thông không đỗ vào các trường đại học, cao đẳng cần được dạy nghề) do đó cần có những giải pháp đồng bộ phát triển các mô hình đào tạo dạy nghề. Trong đó, nhiệm vụ trước mắt là quy hoạch mạng lưới các trường nghề, trung tâm dạy nghề, tiến hành sắp xếp quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề theo hướng đa dạng hóa ngành nghề và loại hình đào tạo nghề. Tập trung đầu tư xây dựng Trường Trung cấp nghề miền núi trở thành trường dạy nghề trọng điểm của khu vực, làm hạt nhân đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, tập trung vào các nghề mũi nhọn; đồng thời coi đó là hạt nhân đối với các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề khác tại các huyện trên tất cả các phương diện như: hỗ trợ giáo viên dạy nghề; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa, bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ cho giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; là cơ sở thực hành các nghề mà các trường và trung tâm dạy nghề khác chưa có điều kiện đầu tư trang thiết bị.

Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh tế xã hội, các doanh nghiệp và cá nhân ở mọi thành phần kinh tế đầu tư thành lập và xây dựng các trường trung cấp nghề và các trung tâm dạy nghề ở 11 huyện miền núi của tỉnh để thực hiện việc đào tạo nghề tại chỗ, những nghề gắn liền với phong tục tập quán sản xuất truyền thống của người dân miền núi. Đồng thời từng bước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị để tổ chức đào tạo nghề ở trình độ sơ cấp, trung cấp cho lao động có nhu cầu làm việc tại các doanh nghiệp yêu cầu trình độ tay nghề cao hơn, có tác phong lao động công nghiệp đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật tại chỗ và mở rộng quy mô, chất lượng lao động ngành nông, lâm, thủy sản.

Coi trọng công tác dạy nghề cho lao động nông thôn, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, các xã giáp biên giới. Chuyển giao kỹ thuật các nghề truyền thống để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là nghề giải quyết việc làm cho nhiều lao động.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách, chế độ với người học và người dạy nghề. Trong đó, đối với người học nghề: Thực hiện chính sách dạy nghề nội trú cho học sinh dân tộc, miền núi: Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định ưu tiên về dạy nghề đối với học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông các trường dân tộc nội trú kể cả nội trú dân nuôi được hưởng học bổng, trợ cấp xã hội và các chính sách khác như học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú. Tuy nhiên, mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ so với nhu cầu học nghề của học sinh dân tộc thiểu số và thanh niên miền núi. Có chính sách cho học sinh các trường nội trú, nhưng chưa có chính sách cho học sinh học ở các trường khác (chiếm khoảng 90% trong tổng số học sinh dân tộc thiểu số). Do đó cần bổ sung, ban hành chính sách mới, và chính sách này áp dụng cho tất cả các đối tượng là người dân tộc thiểu số, người dân tộc khác nhưng có hộ khẩu thường trú lâu dài ở các huyện miền núi đăng ký học nghề ở cả ba cấp độ đào tạo: cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề. Việc đào tạo này phải thực hiện tập trung tại các cơ sở đào tạo nghề để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho người học như nơi ăn, nơi ở, thực hành nghề. Trước mắt, Nhà nước cần hỗ trợ toàn bộ chi phí cho người dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu học nghề gồm tiền ăn, ở, các khoản chi phí khác cho học nghề. Ngoài ra, tùy theo từng nghề đào tạo mà định mức kinh phí hỗ trợ dạy nghề cụ thể như: tiền vật tư thực hành nghề, tiền trả công cho giáo viên, tiền tài liệu học tập… Chính sách hỗ trợ dạy nghề cho nông dân: Đối với những người không đủ điều kiện học nghề nội trú tại các cơ sở dạy nghề công lập và với những nghề không đào tạo tập trung tại các cơ sở dạy nghề mà tổ chức dạy nghề lưu động tại các xã, làng, bản để tạo điều kiện cho người học, cần có chính sách riêng phù hợp để hỗ trợ kinh phí cho người học như: kinh phí cho vật tư thực hành nghề, kinh phí tài liệu học tập, tiền trả công giáo viên, hỗ trợ một phần tiền ăn trong thời gian học nghề. Chính sách hỗ trợ dạy nghề cho người nghèo: Những người tham gia học nghề nếu là hộ nghèo thì có chính sách ưu tiên riêng. Mức hỗ trợ sẽ cao hơn mức kinh phí dạy nghề cho nông dân (nếu học không tập trung) và nếu học tập trung tại các cơ sở dạy nghề công lập thì thực hiện theo chế độ học nghề nội trú.

Đối với giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề. Phải xây dựng và hoàn thiện chế độ, chính sách tuyển dụng, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên dạy nghề; xây dựng tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức giáo viên dạy nghề. Có các chính sách đặc thù nhằm khuyến khích, thu hút nghệ nhân, những người có kinh nghiệm và tay nghề cao trong sản xuất … làm giáo viên dạy nghề. Thực hiện chính sách ưu đãi về tiền lương, các khoản phụ cấp ưu đãi theo lương đảm bảo họ có thể sinh sống ổn định với nguồn thu nhập từ công việc chính của họ là giảng dạy và truyền nghề cho người lao động.

Căn cứ vào điều kiện thực tế ở từng địa phương, phải có chính sách hỗ trợ đất ở, hỗ trợ kinh phí để họ làm nhà, gắn bó lâu dài với miền núi, dân tộc. Nhà nước cần quy định cụ thể đối với giáo viên và cán bộ làm công tác quản lý dạy nghề ở miền núi từ năm thứ 5 trở đi, mỗi năm được hỗ trợ một khoản kinh phí nhất định để họ tích lũy xây dựng nhà ở, đảm bảo sau khoảng 5-7 năm từ nguồn tích lũy cá nhân và khoản hỗ trợ của Nhà nước, giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề xác định gắn bó lâu dài với miền núi, dân tộc có thể làm nhà kiên cố để ở. Cùng với việc hoàn thiện các chế độ, chính sách việc nâng cao chất lượng cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề cần hết sức coi trọng giáo viên dạy nghề được hình thành từ rất nhiều nguồn khác nhau: tốt nghiệp từ các trường sư phạm kỹ thuật, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề, lao động có tay nghề cao, nghệ nhân… nên trình độ năng lực cũng rất khác nhau. Do đó cần đặc biệt chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề ở cả hai mặt:

Về bồi dưỡng chuẩn hóa: Tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề để xây dựng kế hoạch đào tạo lại, bồi dưỡng chuẩn hóa về trình độ chuyên môn kỹ thuật, về trình độ tay nghề và nghiệp vụ sư phạm.

Về bồi dưỡng thường xuyên: Thực hiện bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ cho đội ngũ giáo viên dạy nghề về chính trị, đổi mới phương pháp dạy nghề, kỹ năng giảng dạy, bồi dưỡng công nghệ mới, ngoại ngữ, tin học để nâng cao năng lực và chất lượng giảng dạy.

Với cán bộ quản lý dạy nghề thực hiện việc bồi dưỡng để nâng cao nghiệp vụ quản lý trên cơ sở tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng chức danh để thể hiện tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ này.

Dành một nguồn kinh phí hợp lý cho đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề miền núi trong các dự án hợp tác quốc tế về dạy nghề. Tạo điều kiện gửi giáo viên dạy nghề ở các huyện miền núi đi đào tạo ở nước ngoài; ưu tiên gửi giáo viên dạy nghề đi thực tập nâng cao về chuyên môn, nghiệp vụ ở các trường nghề trong khu vực và các nước có hệ thống dạy nghề tiên tiến.

Đồng thời tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính.

Để đáp ứng yêu cầu đào tạo phát triển nguồn nhân lực và khuyến khích việc thành lập mới, nâng cấp các trường nghề, các trung tâm dạy nghề, phải có chính sách cụ thể ưu tiên dành quỹ đất cho việc mở rộng, xây dựng đảm bảo diện tích tương ứng với định mức tiêu chuẩn của từng loại cơ sở dạy nghề. Thực hiện miễn thuế sử dụng đất, giảm tiền thuê đất và hỗ trợ kinh phí cho các cơ sở dạy nghề khi giải phóng mặt bằng và xây dựng kết cấu hạ tầng.

Hàng năm cần ưu tiên dành vốn ngân sách từ 10-12% đầu tư cho các cơ sở dạy nghề công lập để xây dựng, nâng cấp phòng học lý thuyết, xưởng thực hành, phòng thí nghiệm, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên đảm bảo đạt tiêu chuẩn. Cần tập trung vốn đầu tư cho cơ sở dạy nghề công lập trọng điểm, trong khoảng từ 3-5 năm phải xây dựng xong đồng bộ các hạng mục và đưa vào khai thác, sử dụng để đem lại hiệu quả cao.

Song song với công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, khôi phục và phát triển các nghề truyền thống, du nhập và phát triển các nghề mới, đẩy mạnh phong trào thanh niên lập nghiệp và xuất khẩu lao động. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế mở mang ngành nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ và vừa, nhất là những có sở có khả năng sử dụng nhiều lao động.

Trước mắt phải tập trung phát triển các ngành, các lĩnh vực có vốn đầu tư ít nhưng sử dụng nhiều lao động, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động ngành nông nghiệp chuyển sang. Chú ý đầu tư phát triển một số ngành, nghề như sản xuất giấy, bột giấy, chế biến hoa quả, chế biến cao su, chế biến các sản phẩm cây lâm nghiệp (từ cây tre, luồng, nứa…) để giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn lao động nông thôn ở các vùng nguyên liệu tập trung cho các ngành chế biến trên. Nhà trường phải gắn với các doanh nghiệp, với các vùng chuyên canh nguyên liệu tập trung để tổ chức đào tạo và tìm đầu ra cho người học nghề. Mặt khác, về lâu dài cần xây dựng và ban hành một số chính sách ưu tiên phù hợp với đặc thù miền núi nhằm khuyến khích tạo mở việc làm cho người lao động như: Chính sách cho người lao động vay vốn để học nghề, đóng góp cổ phần, thu hút vào làm việc tại các doanh nghiệp; chính sách hỗ trợ người sản xuất tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, nông sản hàng hóa, tạo điều kiện mở rộng sản xuất để thu hút lao động; chính sách cho vay ưu đãi và hỗ trợ vốn ngân sách để đầu tư, đổi mới công nghệ cho các cơ sở sản xuất, chế biến các sản phẩm từ nguyên liệu địa phương, nhất là chế biến nông, lâm sản. Đây là cơ sở bền vững hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, giải quyết nhiều việc làm cho lao động nông thôn.

Lý Văn Chương

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,908,686


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs