Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/09/2008
Một số vấn đề lý luận về thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay
Phát triển và thực hiện công tác xã hội trong giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số là một nội dung quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta nhằm tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc thiểu số có cơ hội đi học để xoá mù chữ, phổ cập giáo dục và nâng cao trình độ dân trí nhằm thực hiện quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới vùng miền núi, dân tộc. Người nhận thức sâu sắc công ơn của đồng bào các dân tộc đối với cách mạng. Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải có kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư thoả đáng, chăm lo đến công tác giáo dục-đào tạo, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các mặt nhằm tạo ra sức mạnh nội lực có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề phát triển giáo dục, xoá mù chữ cho đồng bào các dân tộc thiểu số để đồng bào các dân tộc có thể tiến kịp miền xuôi và tự phát triển dân tộc mình. Trong Thư gửi các học sinh trường sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp trường khai giảng ngày 22/3/1955, Người đã chỉ rõ: “Các cháu thuộc nhiều dân tộc và ở nhiều địa phương. Nhưng các cháu đều là con em của đại gia đình chung: là gia đình Việt Nam; đều có một Tổ quốc chung là Tổ quốc Việt Nam.

Thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục cho đồng bào các dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách phát triển giáo dục dành riêng cho đồng bào các dân tộc thiểu số và ở các vùng dân tộc nhằm tạo điều kiện và cơ hội cho con em đồng bào các dân tộc được học tập, nâng cao trình độ phù hợp với dân tộc mình. Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách hiện nay về phát triển giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là:

“Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hoá, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng... Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ là người dân tộc thiểu số”.

Để thực hiện được nhiệm vụ cấp bách là phát triển giáo dục ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng ta xác định phải thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục giữa đồng bào các dân tộc, có chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa và học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số về điều kiện học tập, học bổng. Đó chính là: “Ưu tiên phát triển các cơ sở giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội trú, bán trú cho học sinh dân tộc thiểu số; cải tiến chính sách học bổng cho các em học các trường này; thực hiện chế độ miễn phí học tập và cung cấp sách giáo khoa cho học sinh vùng cao, vùng sâu, vùng xa, học sinh người dân tộc thiểu số. Học sinh dân tộc thiểu số được tạo điều kiện để học tập, nắm vững kiến thức phổ thông, đồng thời học tốt tiếng dân tộc”. “Thực hiện tốt chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ đối với các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn. Có chính sách bổ túc kiến thức cần thiết cho số học sinh dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở mà không có điều kiện học tiếp để các em trở về địa phương tham gia công tác ở cơ sở.

Nhà nước ta đã cụ thể hoá các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục cho đồng bào các dân tộc bằng Hiến pháp, pháp luật và chính sách phát triển giáo dục cụ thể cho từng dân tộc, từng vùng dân tộc thiểu số. Trong đó, Nhà nước ta xác định trước hết phải tiến hành phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở cho đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm đạt đến mức chuẩn chung của xã hội từ đó giúp đồng bào các dân tộc phát triển vững chắc.

Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn”. Luật giáo dục năm 2005 cũng khẳng định quyền và nghĩa vụ học tập của công dân: Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập. Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, bảo đảm điều kiện để những người học giỏi phát triển tài năng. Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật và đối tượng hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.

Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số của nước ta đã cho thấy một số nội dung cơ bản như sau:

Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục trước hết là tạo cơ hội học tập và nâng cao trình độ ngang nhau, phù hợp cho đồng bào các dân tộc ở các vùng dân tộc thiểu số của nước ta.

Công bằng xã hội về cơ hội cho đồng bào các dân tộc trong giáo dục không chỉ là tạo cơ hội học tập như nhau cho mọi người mà quan trọng hơn là cơ hội đó phải phù hợp với vùng, miền và với từng dân tộc. Nói cách khác, công bằng xã hội về cơ hội phải được hiểu là tạo ra cơ hội học tập và nâng cao trình độ phù hợp với từng người, từng dân tộc.

Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở các vùng dân tộc chính là tạo được cơ hội học tập phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội, nhu cầu và nguyện vọng của đồng bào các dân tộc trong xã hội, để ai cũng có điều kiện phát triển nghề nghiệp, tài năng, hiểu biết đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội.

Điều này có nghĩa là khi tạo ra cơ hội học tập cho đồng bào các dân tộc phải tính đến điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu học tập của đồng bào các dân tộc. Điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu nâng cao trình độ dân trí của đồng bào như thế nào thì tạo cơ hội học tập phù hợp để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào. Điều kiện kinh tế - xã hội quyết định đến cơ hội học tập của đồng bào, không phải mong muốn của người lãnh đạo quyết định. Nếu cơ hội học tập cao hơn hoặc không phù hợp với đồng bào các dân tộc thì đồng bào không thể đi học hoặc là không có nhu cầu học tập. Mặt khác, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở vùng dân tộc còn phải tính đến điều kiện và khả năng phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia để thực hiện các chiến lược phát triển giáo dục phù hợp với đồng bào.

Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở vùng dân tộc còn là sự bình đẳng trong sự tiếp cận và tham gia vào quá trình giáo dục, trong đối xử đối với đồng bào các dân tộc tại các cơ sở giáo dục của nhà nước ta. Trong giáo dục phải thể hiện sự tôn trọng đồng bào các dân tộc trong các cơ sở giáo dục tạo ra sự bình đẳng trong tiếp cận, tham gia vào quá trình giáo dục tại các cơ sở giáo dục, không có sự phân biệt đối xử giữa dân tộc có trình độ phát triển cao với dân tộc kém phát triển, giữa dân tộc đông người và dân tộc thiểu số.

Hiện nay, tại nhiều cơ sở giáo dục ở nước ta còn có sự phân biệt đối xử đối với con em đồng bào các dân tộc trong quá trình học tập, nâng cao trình độ như trong vấn đề chấm điểm, đánh giá, đối xử giữa các cá nhân tham gia vào quá trình giáo dục. Từ đó, dẫn tới việc là nhiều con em đồng bào dân tộc cảm thấy ngại đi học, ngại học cao và hoà nhập vào cộng đồng các dân tộc, đặc biệt là đối với người dân tộc Kinh.

Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở vùng dân tộc của nước ta còn có chính sách ưu tiên trong giáo dục đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng gặp nhiều khó khăn có trình độ phát triển thấp, con em các gia đình nghèo trong học tập và nâng cao trình độ.

Vùng đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống là vùng có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng. Đây cũng là vùng có điều kiện địa lí, kinh tế - xã hội kém phát triển do điều kiện địa lí khó khăn và do hoàn cảnh lịch sử quy định. Trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào các dân tộc thiểu số đã hy sinh nhiều sức người, sức của để đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc. Nhiều vùng dân tộc thiểu số là cái nôi cách mạng của Việt Nam. Chính vì vậy, trong thời kỳ đổi mới, mở cửa về kinh tế, vùng đồng bào dân tộc không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí thấp, tồn tại nhiều phong tục, tập quán còn lạc hậu, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ở nhiều nơi còn rất thấp. Đặc biệt, về giáo dục ở vùng này phát triển chậm hơn so với mặt bằng chung của cả nước.

Chính vì vậy, để phát triển giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, Nhà nước phải có chính sách ưu tiên cho đồng bào các dân tộc thiểu số khi tham gia vào quá trình giáo dục như ưu tiên về chế độ thi tuyển, ưu tiên về điều kiện học tập và nâng cao trình độ. Tuy nhiên chính sách ưu tiên này cần có sự phân biệt theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội, theo mức độ khó khăn của từng vùng để có chính sách phát triển giáo dục phù hợp nhằm tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc có cơ hội học tập tại các cơ sở giáo dục công lập. Nhà nước cần có chính sách, chương trình giáo dục phù hợp với đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở từng vùng, từng dân tộc. Chỉ khi nào, nhà nước có mô hình giáo dục dành riêng và phù hợp với đồng bào các dân tộc khi đó sự nghiệp giáo dục ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa mới có điều kiện hoà nhập vào phát triển chung của đất nước.

Phạm Văn Dũng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,170,607


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs