Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/09/2008
Kết quả 5 năm thực hiện nghị quyết của đảng về công tác dân tộc ở tỉnh Phú Thọ


Hàng trợ giá, trợ cước đến với đồng bào Mường xã Long Cốc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Tỉnh Phú Thọ có 10 huyện và 216 xã miền núi, trong đó có 43 xã và 190 thôn bản đặc biệt khó khăn. Dân tộc thiểu số có 202.800 người, chiếm 15,09% dân số toàn tỉnh, với 19 dân tộc thiểu số cùng sinh sống, trong đó 4 dân tộc có số lượng người đông sống tập trung thành làng bản ở các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy, Đoan Hùng, gồm các dân tộc: Mường có 183.414 người, chiếm 90,44% tổng số dân tộc thiểu số; Dao 12.212 người (6,02%); Cao Lan 1.533 người (0,76%); Mông 679 người (0,33%).

Thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TƯ về công tác dân tộc, tỉnh Phú Thọ đã tập trung lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc và vùng dân tộc miền núi.
 
 Trong 5 năm qua, các cấp các ngành đã tổ chức thực hiện, triển khai kịp thời có hiệu quả các chương trình dự án đầu tư phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc miền núi; riêng hai chương trình: Chương trình 134, Chương trình 135, từ năm 2003 đến nay đã đầu tư xây dựng 502 công trình bao gồm: trường học 261 công trình; điện: 41 công trình: thủy lợi: 54 công trình; nước sạch: 106 công trình; trạm y tế: 11 công trình; chợ: 13 công trình; nhà văn hóa: 7 công trình… đã xây dựng 45 mô hình về sản xuất và chế biến tiêu thụ sản phẩm với 8.508 hộ; 19.209 hộ được hỗ trợ để phát triển sản xuất. Mở 109 lớp đào tạo tập huấn cho cán bộ xã thôn bản các xã đặc biệt khó khăn với 7.398 lượt người tham gia. Đã hỗ trợ để xóa 3.776 căn nhà tạm của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo… với số vốn đầu tư là: 263.728 triệu đồng.
 
 Kinh tế-xã hội ở miền núi đã có bước phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Nếu như năm 2003, ở vùng dân tộc miền núi còn 20% xã chưa có điện lưới, nhiều xã chưa có trường học kiên cố; 45% trạm y tế xã chưa có bác sĩ; 35% xã chưa có nước sạch sinh hoạt thì nay 100% xã được sử dụng điện lưới quốc gia; hầu hết các xã đều có đường trải nhựa hoặc bê tông; 94% số xã có có trường học kiên cố; 100% trạm y tế xã có bác sĩ; 70% số xã được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; xây dựng 15 trung tâm cụm xã; có 18 xã đã ra khỏi diện xã đặc biệt khó khăn.
 
 Đến nay đã cơ bản khắc phục được tình trạng du canh du cư. Thực hiện tốt chính sách giao đất giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số. Hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung như cây chè, cây nguyên liệu giấy, nâng độ che phủ rừng tăng từ 41% năm 2003 lên 47% năm 2007. Kinh tế trang trại, kinh tế đồi rừng phát triển cả về số lượng, chất lượng. Số hộ giàu tăng, số hộ nghèo giảm nhanh.
 
 Chất lượng giáo dục- đào tạo được nâng lên, đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở, có 149 trường tiểu học và 28 trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia. Cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị cho dạy và học được đầu tư, mở thêm các lớp cắm bản, cơ bản khắc phục được tình trạng học 2 ca. Hơn 90% trẻ em trong độ tuổi được đến trường.
 
  Các huyện vùng dân tộc và miền núi đều có trường dân tộc nội trú. Số học sinh dân tộc thiểu số thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng. Số sinh viên tốt nghiệp ra trường là người dân tộc thiểu số về địa phương đã yên tâm công tác, gắn bó với quê hương.
 
 Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đồng bào dân tộc được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ y tế. Hầu hết bệnh viện tuyến huyện và trạm y tế cơ sở được nâng cấp, đã có 110 xã miền núi đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2001-2010 (chiếm 50,93% tổng số xã miền núi); 100% xã có bác sĩ và cán bộ y tế thôn bản. Công tác phòng dịch được tăng cường, một số dịch bệnh được đẩy lùi và ngăn chặn không để lây lan… Đội ngũ cán bộ y tế là người dân tộc thiểu số ngày càng tăng. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và số người sinh con thứ ba giảm đáng kể.
 
 Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được quan tâm gìn giữ và phát triển, đời sống văn hóa tinh thần đồng bào miền núi được nâng lên. Các hoạt động báo chí, phát thanh-truyền hình được mở rộng đến vùng sâu vùng xa. Đến nay, 100% số xã có hệ thống truyền thanh, tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt 95%, sóng truyền hình đạt 92%; triển khai chương trình phát thanh truyền hình tiếng dân tộc Mường, Dao, Cao Lan. Thực hiên đầy đủ các chương trình biểu diễn nghệ thuật, chiếu bóng không thu tiền phục vụ miền núi.
 
 Hầu hết các xã có trạm bưu điện văn hóa xã, giá thuê bao điện thoại cố định vùng dân tộc miền núi giảm còn 13.000 đồng/máy/tháng. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đạt kết quả tốt.
 
 Công tác quốc phòng an ninh vùng dân tộc thiểu số và miền núi được quan tâm. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh, đã thành lập được 764 tổ an ninh nhân dân, 1.454 tổ liên gia tự quản trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Củng cố và tăng cường các cụm liên kết bảo vệ an ninh trật tự vùng giáp ranh, đấu tranh ngăn chặn kịp thời tệ nạn ma túy, cờ bạc, truyền đạo trái pháp luật và các tệ nạn xã hội khác. Do đó, trong nhiều năm qua, địa bàn vùng dân tộc và miền núi không xảy ra điểm nóng và các vụ việc phức tạp.
 
 Hệ thống chính trị không ngừng được củng cố. Công tác phát triển đảng viên trong vùng dân tộc thiểu số được quan tâm, 5 năm qua đã kết nạp 1.624 đảng viên là người dân tộc thiểu số. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ được coi trọng; số cán bộ là người dân tộc thiểu số trong các cơ quan Nhà nước, lãnh đạo, quản lý, chuyên môn ở các cấp ngày càng tăng, tỷ lệ cấp ủy viên các cấp là người dân tộc thiểu số tăng từ 14,81% (nhiệm kỳ 2000-2005) lên 17,2% (nhiệm kỳ 2005-2010); tỷ lệ đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 so với nhiệm kỳ 1999-2004: cấp tỉnh tăng 12,5%, cấp huyện tăng 10%, cấp xã tăng 25,5%. Chất lượng cán bộ, chất lượng tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở vùng dân tộc miền núi được nâng lên, từng bước đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
 
 Phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động được triển khai rộng khắp, được đông đảo đồng bào các dân tộc tích cực hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phong trào “Người dân tộc thiểu số sản xuất giỏi, công tác xã hội tốt”, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh trật tự… đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc miền núi.
 
 Tuy nhiên, nhìn chung tốc độ phát triển kinh tế vùng dân tộc miền núi tỉnh Phú Thọ còn chậm, chưa bền vững, phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ còn hạn chế, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Chất lượng giáo dục-đào tạo, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn hạn chế.
 
  Tình hình an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn nhân tố phức tạp như tệ nạn ma túy, cờ bạc, tranh chấp đất đai, truyền đạo trái pháp luật. Một bộ phận nhân dân và cán bộ cơ sở ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước; chưa thực sự vươn lên thoát nghèo… Tình hình đó đang đặt ra cho cấp ủy và chính quyền các cấp tỉnh Phú Thọ phải tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết 24/NQ/TƯ về công tác dân tộc. Tập trung nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc miền núi nhất là vùng sâu vùng xa; đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị, đổi mới công tác vận động quần chúng, để Phú Thọ sớm vươn lên thoát nghèo.

Nguyễn Hữu Trí
Trưởng ban Dân tộc Phú Thọ

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,903,512


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs