Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/09/2008
Thực hiện nghị quyết Trung Ương 7 có ý nghĩa quan trọng đối với bình đẳng, đoàn kết dân tộc


Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX, đã ra Nghị quyết về công tác dân tộc. Nghị quyết đã đánh giá tình hình và công tác dân tộc trong thời gian qua. Nêu rõ những quan điểm cơ bản về vấn đề dân tộc, mục tiêu cụ thể, nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cũng như những giải pháp quan trọng.

Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác dân tộc thực sự đáp ứng nguyện vọng chính đáng của đồng bào các dân tộc nên được đồng bào tiếp nhận với tinh thần phấn khởi và ra sức thực hiện. Vùng dân tộc thiểu số đã có bước phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 4 năm (2003 -2007) từ 10 đến 12% cao hơn mức bình quân chung cả nước, trong đó có nhiều địa phương có mức tăng trưởng cao như: Sơn La 14,28%, Lào Cai 14%, Đắc Lắc 13,6%, vv.
 
 Cơ cấu kinh tế vùng dân tộc thiểu số đã và đang chuyển dịch theo hướng từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá, với tỷ xuất hàng hoá cao như cây cà phê, hồ tiêu ở Tây Nguyên, cây chè ở miền núi phía Bắc, cây mận, cây dứa ở Lào Cai, v.v. Từ nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp, lao động chuyển sang hướng trên là một báo hiệu tốt cho sự phát triển của vùng này. ý thức phát triển bền vững được nâng cao hơn trước nên rừng được phát triển và bảo vệ tốt hơn, độ che phủ dần dần được khôi phục với tỷ lệ ngày càng cao như: Tây Nguyên 56,5%, Yên Bái 45,9%, Tây Bắc 36%, Nghệ An 46%. Hình ảnh cơ giới hoá nông nghiệp đã xuất hiện và rõ nét ở nhiều nơi, dùng xe máy đi lại, vận chuyển, đi làm ruộng nương ở vùng sâu, vùng xa không còn là hiếm. Nhiều mô hình kinh tế hộ gia đình sản xuất giỏi, mạnh dạn đầu tư phát triển trang trại, chăn nuôi đại gia súc, với quy mô ngày càng lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao và tạo công ăn việc làm cho nhiều người.
 
 Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân mỗi năm từ 4-5%, dự kiến đến năm 2010 sẽ đạt vượt mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Kết quả Chương trình 134 về giải quyết đất ở, với phong trào góp quỹ vì người nghèo cơ bản cũng đã xoá tình trạng nhà tạm, nhà dột nát theo như mục tiêu của nghị quyết.
 
 Thực hiện có hiệu quả Chương trình 135 và các chương trình khác. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số được xây dựng và phát triển mạnh đúng trọng tâm, gần 100% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã, trên 70% số thôn bản đã có đường xe máy đến. Đường điện đã được xây dựng đến 100% số huyện, trên 70% số xã và nhiều thôn bản ở vùng sâu vùng xa đã có điện lưới quốc gia. Thông tin liên lạc truyền hình đã đến với tất cả các xã, Điều đó minh chứng cho sự đổi thay của đồng bào dân tộc thiểu số.
 
 Tuy nhiên, xét về mặt đời sống, xoá đói giảm nghèo là một mục tiêu rất quan trọng, ở thời điểm khảo sát là năm 2007 thì khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc còn lớn, thậm chí có dân tộc còn rất lớn. Trong khi tỷ lệ hộ nghèo bình quân chung của cả nước là 14,8%, thì tỉnh Sơn La là 57% trong đó dân tộc Mông là 76%, Xinh Mun 93,8%. Tỉnh Tuyên Quang là 27,7%, trong đó tỷ lệ nghèo của hộ dân tộc thiểu số là 71,5%, Mông 79%, Dao 76%. Tỉnh Lai Châu là một tỉnh dân tộc thiểu số chiếm 80% nhưng số xã đặc biệt khó khăn đã chiếm trên 70% số xã trong toàn tỉnh (66/94 xã). Tỉnh Kon Tum bình quân chung toàn tỉnh là 27,5% trong khi đó dân tộc thiểu số là 58% chênh lệch hơn 2 lần. Hộ nghèo dân tộc thiểu số so với tổng số hộ nghèo của Gia Lai là 83%, Đắc Lắc là 52,3%, như vậy cho thấy số hộ nghèo của những tỉnh này phần lớn là rơi vào những hộ dân tộc thiêu số. Có một số dân tộc có thể xếp vào loại dân tộc nghèo là: Xinh Mun 93,88% (Sơn La), La Hủ 90,6%, Kháng 90,88% Cống 72,3% (Lai Châu), Dao ở Cao Lộc - Lạng Sơn 98%.
 
 Kết quả khảo sát đánh giá trên cho thấy mục tiêu xoá đói giảm nghèo, nói chung đến năm 2010 là có thể đạt được theo như Nghị quyết Trung ương 7 đề ra nhưng phân tích đi vào từng dân tộc ở từng vùng cụ thể thì còn phải phấn đấu nhiều mới đạt được mục tiêu.
 
 Cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, sự nghiệp giáo dục đã được phát triển rộng rãi khắp nơi ở vùng dân tộc thiểu số kể cả vùng sâu vùng xa hẻo lánh nhất. Các địa phương đều đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và nhiều địa phương đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Kết quả đó đã góp phần quan trọng, rất có ý nghĩa cho việc nâng cao dân trí, ngày càng hiểu biết và hoà hợp thống nhất giữa các dân tộc trong một quốc gia thống nhất đa dân tộc. Khối đại đoàn kết dân tộc được tăng cường bền chặt, bởi tiếng phổ thông ngày càng được phổ biến rộng rãi, chữ quốc ngữ ngày càng trở thành chữ viết thông dụng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
 
 Tuy nhiên chất lượng giáo dục ở vùng này nói chung còn thấp, điều kiện sinh hoạt và giảng dạy cho thầy cô giáo còn nhiều khó khăn thiếu thốn, các em đi học còn nhiều khó khăn bởi hoàn cảnh kinh tế gia đình, đi lại xa, phải qua đèo, qua suối.
 
 Bên cạnh đó việc dạy và học chữ dân tộc còn nhiều lúng túng, chưa tạo ra được động lực mạnh mẽ để lôi cuốn, tạo sự hứng thú, say mê đối với người học vào việc học chữ của dân tộc mình.
 
 Về chăm sóc sức khoẻ đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, mạng lưới y tế đã được phát triển rộng khắp đến tất cả các xã. Do đó hầu hết đồng bào các dân tộc kể cả vùng sâu vùng xa đều được tiếp cận, được hưởng thụ dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, chất lượng chăm sóc sức khoẻ ở đây còn thấp, trang thiết bị y tế và đội ngũ bác sĩ, y tá còn thiếu, hiểu biết của người dân về chăm sóc sức khỏe còn kém cộng với một số phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng nhiều đến công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc.
 
 Về phát thanh-truyền hình: Phát thanh đã phủ sóng trên 90%, truyền hình phủ sóng trên 70%, đã giúp cho đồng bào dân tộc được hưởng thụ thông tin. Phát thanh và truyền hình đã cho phát sóng bằng nhiều tiếng dân tộc thiểu số, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho người không biết tiếng phổ thông cũng được hưởng thụ thông tin.
 
 Tuy nhiên do mức sống thu nhập còn khác nhau, nên số người được nghe đài và xem truyền hình còn có mức độ khác nhau, thậm chí có nơi khoảng cách đó còn rất xa, còn nhiều bản làng số người được xem truyền hình có lẽ chỉ khoảng 10 đến 15%... Do phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc chỉ là biên dịch bản tin từ tiếng phổ thông sang tiếng dân tộc, mặt khác tiếng dân tộc thiểu số lại có nhiều phương ngữ khác nhau nên hiệu quả phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc thiểu số còn chưa cao.
 
 Về bản sắc văn hóa: Những giá trị của bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, trên tất cả các loại hình đều đã được các cơ quan chức năng chú ý quan tâm và đồng bào các dân tộc hưởng ứng nên ngày càng được khai thác để bảo tồn bằng nhiều hình thức. Cơ quan văn hoá của nhà nước tổ chức nhiều hội diễn ở nhiều vùng miền và chuyên một số dân tộc như Khmer, Hoa, Mông, Mường, Hát then vùng Tày - Nùng, Cồng chiêng Tây Nguyên… đã góp phần phát huy, tôn vinh văn hoá của các dân tộc.
 
 Đối với công tác cán bộ và xây dựng hệ thống chính trị trong những năm qua, chúng ta đã quan tâm xây dựng hình thành một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số về số lượng và chất lượng, có phẩm chất và năng lực để đảm đương nhiệm vụ được giao. Tuy còn ở cấp độ khác nhau, từ cơ sỏ đến trung ương đều đã có cán bộ là người dân tộc thiểu số, được phân công và bố trí đảm đương những cương vị thích hợp như: Cao Bằng, Lạng Sơn số lượng cán bộ công chức trong toàn tỉnh là người dân tộc thiểu số đã chiếm trên 80% hầu hết cán bộ lãnh đạo của địa phương là người dân tộc thiểu số tại chỗ, một số đồng chí Bí thư, Chủ tịch tỉnh, huyện là người dân tộc thiểu số. Cán bộ là đại biểu dân cử từ địa phương đến Trung ương đều đã tương ứng hoặc cao hơn so với tỉ lệ dân số của dân tộc tại mỗi địa phương và trên bình diện toàn quốc. Về chất lượng do quan tâm đến việc tạo nguồn, bên cạnh đào tạo từ hệ thống giáo dục phổ thông, nhà nước còn có chính sách đặc biệt mở hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú. Đến năm học 2006-2007, hệ thống trường này đã được xây dựng phát triển đến 49 tỉnh, thành phố với 279 trường và khoảng 86.000 học sinh và 5 trường dự bị đại học. Do đó đã tạo được nguồn tuyển sinh đáng kể vào đại học, cao đẳng, trung cấp và học nghề.
 
 Tuy nhiên, công tác quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số chưa có chiến lược lâu dài, chưa quan tâm bám sát vào tình hình cơ cấu dân tộc của từng địa phương và trên phạm vi cả nước, cho nên cán bộ dân tộc thiểu số còn có sự chênh lệch giữa các dân tộc.
 
 Hệ thống chính trị ở cơ sở được xây dựng, củng cố trong sạch vững mạnh, hầu hết các xã đều đã có Đảng bộ, thôn có chi bộ, năng lực của cán bộ cơ sở đã được nâng lên rõ rệt, một số địa phương đã phổ cập trung học và đại học. Tình trạng cán bộ cơ sở không biết chữ và không biết tiếng phổ thông cơ bản không còn. Chế độ chính sách đối với cán bộ cơ sở đã được quan tâm, đã có trụ sở làm việc và làm việc thường xuyên trong tuần, chấm dứt tình trạng nhiều nơi phải làm việc ở nhà Chủ tịch xã và có khi cần đến dấu phải lên nương tìm Chủ tịch đóng dấu. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia vào việc giáo dục đồng bào các dân tộc ở cơ sở thực hiện quyền làm chủ, đoàn kết, giúp đỡ nhau thực hiện chính sách dân tộc, thể hiện rõ nét nhất là cuộc vận động xây dựng đời sống mới ở khu dân cư và quỹ vì người nghèo để xây dựng nhà đại đoàn kết và tham gia xoá đói giảm nghèo có hiệu quả.
 
 Tuy nhiên, bộ máy làm việc ở cơ sở còn yếu, chưa đáp ứng nhu cầu, còn cồng kềnh (mỗi xã có 19 biên chế, một đến hai cán bộ tăng cường), nhiều nơi không sát dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hoạt động có chiều hướng hành chính hoá và còn nặng hình thức.
 
 Trong công tác quốc phòng, an ninh ở vùng dân tộc thiểu số do có những thành quả về kinh tế đời sống, văn hóa và sự quan tâm đặc biệt của địa phương nên quốc phòng, an ninh đã được củng cố tăng cường, quốc phòng toàn dân và phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc do lực lượng vũ trang làm nòng cốt đã sẵn sàng đủ sức đập tan mọi âm mưu bạo loạn của những phần tử xấu, lợi dụng tôn giáo và dân tộc để phá hoại chính sách và khối đại đoàn kết dân tộc của ta.
 
 Tuy nhiên, tình hình an ninh vẫn còn tiềm ẩn phức tạp và mất ổn định, các thế lực thù địch với âm mưu thường trực, thường xuyên có cơ hội là thổi bùng lên chống phá ta. Cần nhận thức rõ vấn đề dân tộc là vấn đề cơ bản và lâu dài, công tác dân tộc không có việc gì là nhỏ mà đều là cực kỳ quan trọng. Để tiếp tục làm tốt công tác dân tộc theo quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc do đó Uỷ ban Dân tộc là cơ quan của Đảng và Nhà nước chủ trì, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện nghị quyết, cần phối hợp với các cơ quan có liên quan, tổ chức sơ kết thực hiện nghị quyết từ khi ban hành cho đến nay. Trên cơ sở đó đề xuất những chủ trương biện pháp thực hiện đến năm 2010 và những năm tiếp theo.

Cư Hoà Vần
Phó Chủ tịch Uỷ ban TƯ MTTQVN

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,914,310


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs