Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/09/2008
Tìm hiểu vấn đề hôn nhân và gia đình trong luật tục Chăm
Hôn nhân và gia đình là một trong những nội dung cơ bản đề cập trong Luật tục Chăm. Đây là một chế định quan trọng, gần gũi, thiết thực nhất trong cộng đồng người Chăm. Đối với vấn đề hôn nhân việc kết hôn phải trên nguyên tắc tự nguyện.

Nghĩa là họ tự do tìm hiểu nhau, khi tình yêu đã đến độ chín muồi thì cha mẹ bên nữ chủ động hỏi ý kiến cha mẹ bên nam. Sau khi hai bên đã thống nhất và đồng ý đôi nam nữ lấy nhau thì bên nữ chuẩn bị các bước lễ sau: lễ dạm hỏi (nau akauk panuơc); lễ hỏi (nau panuơc); lễ kết (paklok panuơc); lễ cưới (băng mưnhum). Trong đó lễ cưới đóng vai trò quan trọng vì có sự tham gia chứng kiến của hai bên gia đình, tộc họ, làng xóm. Đây là bằng chứng của hôn nhân được Luật tục Chăm công nhận. Do người Chăm theo chế độ mẫu hệ, gái cưới chồng, nữ giới thuộc về nội, nam giới thuộc về ngoại. Theo Luật tục Chăm: “Con gái 16 tuổi, con trai 18 tuổi không có quan hệ họ hàng máu mủ thì được kết hôn với nhau”. Và điều kiện để được kết hôn gồm:

Người chưa có vợ, chưa có chồng; những người đã kết hôn nhưng có vợ hoặc có chồng bị chết và đã mãn tang (ít nhất một năm); hôn nhân đồng dân tộc, đồng tôn giáo. Tuy nhiên, Luật tục cũng quy định các trường hợp cấm kết hôn:

Cấm kết hôn với người cùng tộc họ bên mẹ, dù xa mấy đời cũng không được lấy nhau. Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, dòng họ được tính theo huyết thống bên mẹ và việc phân biệt giữa dòng họ này với dòng họ khác thông qua Kút. Đặc biệt những người cùng huyết thống này khi chết đi đều nằm chung một Kút nên họ không được lấy nhau; Cấm kết hôn với chị em họ song song, tức là con chị em gái của mẹ hoặc anh em trai của cha, người Chăm gọi hệ này là “taley kamey, taley likey”.

Hôn nhân chị em họ tréo, tức là con anh em trai cùng họ với mẹ hay chị em gái cùng họ với cha, người Chăm gọi là “mik wa tada muôn” (con cô cậu).

Cấm người chồng không được lấy con riêng của vợ mình do lấy chồng trước sinh ra và ngược lại quả phụ cũng không được lấy con riêng của chồng mình.

Luật tục Chăm không ép buộc kết hôn trong trường hợp người anh chết thì người em phải lấy vợ của anh mình và ngược lại khi em chết thì người anh không bắt buộc phải lấy vợ của em mình. Cấm kết hôn với người khác dân tộc vì họ không cùng tục thờ thần, tiếng nói của mình. Người nào kết hôn với người khác dân tộc thì sẽ bị người Chăm xem là người “ngoại lai”. Đặc biệt đối với người phụ nữ tuyệt đối không được lấy người khác dân tộc. Cấm kết hôn cùng dân tộc nhưng khác tôn giáo.

Người Chăm rất tôn trọng chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Trường hợp ngoại hôn rất ít xảy ra. Nếu người chồng đi lấy vợ lẽ, không được sự đồng ý của người vợ chính và làm những điều trái với Luật tục Chăm thì người chồng đó sẽ bị người vợ đưa về giao cho cha mẹ, tộc họ bên chồng.

Đối với Luật tục Chăm đề cập những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, trong quan hệ vợ chồng, họ sống tình cảm và chung thuỷ với nhau, cùng nhau gánh vác trách nhiệm gia đình và chia sẻ những khó khăn với nhau. Do đó, vấn đề ly hôn trong cộng động người Chăm rất ít xảy ra. Việc ly hôn chỉ xảy ra khi có lý do chính đáng như: chồng uống rượu bê tha về nhà, đánh đập, ngược đãi vợ, theo vợ bé…

Thứ hai, Vấn đề chia tài sản chung, vấn đề con cái sau ly hôn và quyền tái giá.

Về chế độ gia đình, mô hình gia đình của người Chăm phổ biến hiện nay là mô hình gia đình hỗn hợp, gồm hai cặp vợ chồng trở lên cùng với con cái của họ ở chung, có cơ sở kinh tế làm ăn chung. Ngoài kinh tế chung, từng cặp vợ chồng thành viên có thể làm ăn riêng như ruộng, rẫy, chăn nuôi để họ tích luỹ một số tài sản ban đầu trong việc chủ động chăm sóc, nuôi dưỡng con. Trong mô hình gia đình người Chăm, phụ nữ lớn tuổi nhất thuộc thế hệ cao nhất trong gia đình thường coi là chủ hộ gia đình, có trách nhiệm về kinh tế, các lễ nghi… Trong gia đình người Chăm, người vợ đóng vai trò quan trọng là người chủ hộ trong gia đình và được hưởng quyền thừa kế tài sản của cha mẹ. Tuy nhiên trong cuộc sống gia đình vợ chồng cũng thể hiện sự bình đẳng với nhau, có sự bàn bạc trong việc làm ăn và quyết định những việc lớn trong gia đình như tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế có giá trị tài sản lớn. Việc phân công lao động của mỗi thành viên trong gia đình rất chặt chẽ. Chẳng hạn, trong sản xuất nông nghiệp, cày bừa, những công việc nặng nhọc khác đều do người đàn ông đảm trách còn người đàn bà làm nghề truyền thống (dệt, đồ gốm) và hỗ trợ đắc lực cho người đàn ông. Chính sự bình đẳng và phân công công việc một cách hợp lý như vậy nên đời sống kinh tế trong cộng đồng người Chăm hiện nay tương đối ổn định.

Về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, luật tục Chăm cũng quy định rõ những nội dung sau: Tôn trọng quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình, phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc; Thứ hai, Luật tục Chăm quy định quyền, nghĩa vụ cụ thể của các thành viên trong gia đình; quy định rõ trách nhiệm của cha mẹ, trách nhiệm của con cái trong gia đình…

Qua tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề hôn nhân và gia đình trong Luật tục Chăm cho thấy những tiến bộ sau:

Thứ nhất, Luật tục Chăm xác lập hôn nhân trên nguyên tắc tự nguyện, một vợ, một chồng, không có sự ép buộc, cưỡng ép trong kết hôn từ phía cha mẹ, tộc họ. Đây là nguyên tắc tiến bộ phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Thứ hai, Luật tục Chăm thể hiện rõ sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng cũng như các thành viên trong gia đình. Vợ chồng bình đẳng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con để con trở thành người con hiếu thảo trong gia đình. Bên cạnh đó, Luật tục còn quy định sự phân công lao động trong gia đình một cách hợp lý phù hợp với khả năng của mỗi người trong gia đình.

Thứ ba, Luật tục Chăm quy định vợ (chồng) sau khi mãn tang có quyền kết hôn với vợ (chồng) khác. Đây cũng là điểm tiến bộ, phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Thứ tư, Luật tục Chăm rất đề cao sự chung thuỷ giữa vợ và chồng, người phụ nữ không muốn chia sẻ tình cảm vợ chồng mình cho người khác. Luật tục có câu:

“Thà bới cơm trong nồi cho ăn, không ai chịu chồng mình đi lấy vợ lẽ”.

Thứ năm, Luật tục Chăm quy định không có tục nối dây trong hôn nhân. Đây là điểm tiến bộ hơn so với các dân tộc thiểu số khác. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ, còn có những mặt hạn chế cụ thể sau:

Thứ nhất, Luật tục Chăm quy định độ tuổi kết hôn thấp hơn độ tuổi quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Điều này cũng phần nào ảnh hưởng đến tình trạng tảo hôn trong cộng đồng người Chăm.

Thứ hai, Luật tục Chăm quy định cấm kết hôn khác dân tộc, tôn giáo. Quy định như vậy trái với nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình.

Thứ ba, thủ tục làm dạm hỏi, lễ hỏi, lễ kết, lễ cưới rất rườm rà và tốn kém tiền của bên nữ.

Thứ tư, sau khi tổ chức lễ cưới xong coi như hai họ và làng xóm đã công nhận họ là vợ chồng của nhau chứ chưa quy định cụ thể đôi vợ chồng phải đến Uỷ ban nhân cấp xã nơi cư trú bên nam (nữ) để đăng ký kết hôn. Điều này dẫn đến tình trạng không đăng ký kết hôn tương đối nhiều.

Thứ năm, Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn chưa thể hiện đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Vì tại Điều 95 khoản 2 điểm a quy định: “ Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”. Từ kết quả nghiên cứu trên, bên cạnh những yếu tố tích cực thì những hạn chế trong luật tục Chăm rất cần được các ngành tuyên truyền, vận động, giáo dục ý thức pháp luật để các chức sắc có thẩm quyền trong cộng đồng người Chăm điều chỉnh luật tục sao cho vừa đảm bảo yếu tố văn hoá cộng đồng vừa đảm bảo những nguyên tắc cơ bản theo quy định của pháp luật Nhà nước ban hành.

Lưu Tích Thái Hòa

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,863


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs