Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/09/2008
Vai trò tham mưu của Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh trong triển khai thực hiện các chính sách dân tộc
Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, biên giới, hải đảo thuộc vùng Đông Bắc của Tổ quốc, đồng thời là một tỉnh nằm trong tam giác kinh tế phía Bắc của cả nước.

Dân số toàn tỉnh là 1.081363 người, trong đó dân tộc thiểu số là 119.651 người chiếm 11,1%, bao gồm 28 thành phần dân tộc.

 Phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số sống tập trung ở khu vực miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo - nơi có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng của tỉnh. Năm 2007, thu nhập bình quân trên địa bàn tỉnh là 1045 USD/người/năm. Trong đó thu nhập bình quân vùng dân tộc thiểu số 150 USD/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2007 là 7,4%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số là trên 20%, đặc biệt là các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo trên 60%. Đây là một thách thức lớn của tỉnh Quảng Ninh về sự chênh lệch khoảng cách quá lớn về trình độ phát triển và mức sống của người dân vùng dân tộc thiểu số miền núi so với vùng đồng bằng đô thị trọng điểm kinh tế của tỉnh. Chính vì lẽ đó, công tác tham mưu của Ban Dân tộc phải bám sát sự chỉ đạo của Uỷ ban Dân tộc, của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh. Từ đó đề xuất những giải pháp hiệu quả nhằm ổn định và phát triển bền vững đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh.

Tỉnh Quảng Ninh có 30 xã đặc biệt khó khăn và 29 thôn, bản đặc biệt khó khăn khu vực II thuộc diện đầu tư Chương trình 135 giai đoạn II. Trong đó có 8 xã biên giới thuộc nguồn vốn Trung ương đầu tư còn lại 22 xã và 29 thôn, bản nguồn vốn của Tỉnh đầu tư hàng năm. Ngay từ tháng 7 năm 2007, Ban đã hướng dẫn cho các huyện, thị xã thuộc phạm vi Chương trình 135 rà soát xây dựng kế hoạch dân chủ từ cơ sở để Ban tổng hợp phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư đề xuất với Uỷ ban nhân dân tỉnh trình kỳ họp cuối năm Hội đồng nhân dân tỉnh phân bổ vốn đầu tư cho Chương trình ngay từ đầu năm kế hoạch. Tạo điều kiện cho các huyện triển khai nhanh kế hoạch đến các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Ban đã tham mưu xây dựng tiêu chí phân loại theo trình độ phát triển và định mức đầu tư cho các xã, thôn, bản thuộc Chương trình 135 giai đoạn II để Uỷ ban nhân dân tỉnh trình kỳ họp thứ 13 Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XI thông qua làm cơ sở phân bổ vốn đầu tư không bình quân chia đều, tạo điều kiện cho những xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn hơn được cấp vốn nhiều hơn.

Hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi Quảng Ninh là lấy phát triển kinh tế rừng làm trọng tâm, đồng thời phát triển chăn nuôi gia súc, phát triển sản xuất nông, ngư nghiệp. Riêng kinh tế rừng của Quảng Ninh có đầu ra tiêu thu sản phẩm ổn định lâu dài dựa vào chiến lược phát triển của ngành than, theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khai thác than hầm lò nên nhu cầu tiêu thụ gỗ trụ mỏ ngày càng lớn với ba chủng loại gỗ chính: gỗ keo tai tượng, gỗ thông, gỗ giẻ. Ngoài ra Quảng Ninh còn có nhiều xưởng chế biến dăm gỗ cho sản xuất giấy và xuất khẩu. Thực hiện Quyết định 134 của Chính Phủ và Chương trình rà soát 3 loại rừng, Quảng Ninh đã chuyển giao hàng ngàn hecta rừng sản xuất của các lâm trường cho các huyện để giao đất sản xuất cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Tiêu biểu các huyện vùng cao Ba Chẽ 6.175 ha, Bình Liêu 2.500 ha và vùng núi Tiên Yên 2.600 ha bình quân từ 3 ha đến 10 ha/hộ. Những thôn bản do mật độ dân số quá đông không đủ đất sản xuất tỉnh đã có chính sách di dân nội vùng bố trí quy hoạch lại dân cư từng bước ổn định đời sống và sản xuất cho bà con.

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất gồm hai nguồn chính. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Chương trình 135 chủ yếu hỗ trợ mô hình sản xuất theo Quyết định số 1436/QĐ-UBND ngày 04/5/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh “V/v phê duyệt định mức và mức hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào dân tộc và miền núi thuộc Chương trình 135 tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2007-2010”.

Ngoài ra còn có nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh mỗi năm đầu tư hỗ trợ trên 5 tỷ đồng.

Nguồn vốn đầu tư gián tiếp bằng vốn vay tín dụng cho các hộ nghèo thông qua Ngân hàng chính sách xã hội. Tỉnh cấp bù lãi suất cho các xã đặc biệt khó khăn 100%, các xã vùng khó khăn 50%. Chương trình được triển khai thực hiện từ năm 2005 đến nay đã bắt đầu phát huy hiệu quả. Những năm đầu do còn có tư tưởng ỷ lại trông chờ nhà nước các hộ đồng bào dân tộc thiểu số vay rất ít hoặc không biết vay để làm gì.

Khi các mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đồng bào được tham quan học tập và thấy rõ được lợi ích của việc vay vốn phát triển sản xuất. Nhiều nhóm hộ đã liên kết vay vốn phát triển kinh tế vườn rừng, phát triển chăn nuôi và sản xuất nông ngư nghiệp.

 Ví dụ: Nhà nước chỉ hỗ trợ một lần cây giống trồng rừng trong cả giai đoạn không quá hai hécta/hộ. Các hộ dân muốn trồng thêm phải vay vốn ngân hàng. Hỗ trợ giống bò nuôi sinh sản hai triệu đồng/con, các hộ phải vay thêm vốn ngân hàng từ 2-3 triệu đồng mới mua được một con bò giống. Như vậy đồng bào phải suy nghĩ trồng cây gì? Nuôi con gì? trước khi vay vốn sản xuất. Từng bước chuyển nhận thức cho bà con, từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá bằng vốn vay tín dụng được bù lãi suất với những sản phẩm có đầu ra tiêu thụ ổn định lâu dài. Một số sản phẩm đã có thương hiệu như: Gỗ trụ mỏ, Miến dong Bình Liêu, lợn Móng Cái, gà Tiên Yên, nhím Hoành Bồ, ba kích Ba Chẽ...

Về huy động các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách của các doanh nghiệp và các tổ chức chính trị xã hội hỗ trợ cho các xã nghèo đặc biệt khó khăn theo quyết định số: 800/QĐ-UBND ngày 08/3/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh “về việc phân công giúp đỡ 26 xã nghèo đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, thực hiện công tác giảm nghèo 2007-2010”. Mỗi năm huy động được trên 2 tỷ đồng giúp đỡ giải quyết những yêu cầu bức xúc, cấp thiết của từng xã như hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng và dạy nghề cho thanh niên người dân tộc hoặc tiếp nhận lao động là con em người dân tộc thiểu số.
1. Giá vật tư, nguyên liệu, hàng hoá tăng nhanh đề nghị Chính phủ tăng định mức hỗ trợ vốn đầu tư cho các xã thôn, bản đặc biệt khó khăn năm 2009 và 2010 tăng từ 30% trở lên. Có định mức duy tu bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành khoảng 5% để có kinh phí bảo trì bảo dưỡng nâng cao tuổi thọ của công trình.

2. Chính sách trợ giá, trợ cước các mặt hàng thiết yếu ở miền núi, hải đảo vùng đồng bào dân tộc theo Nghị định số: 20/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ. Do thực hiện chính sách đã 10 năm nên một số mặt hàng không còn phù hợp và hiệu quả đầu tư còn hạn chế. Đề nghị Chính phủ nghiên cứu chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân được hưởng lợi các măt hàng chính sách.

Phạm Văn Lân
Trưởng ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,689


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs