Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/09/2008
Vai trò tham mưu và những kết quả đạt được trong công tác dân tộc ở Quảng Nam
Trong những năm qua, nhất là từ khi có Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khoá IX) về công tác dân tộc, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX của Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết 05 của Tỉnh uỷ về Một số chủ trương và giải pháp trọng tâm về dân tộc và miền núi, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các địa phương triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của các nghị quyết Trung ương, tỉnh đề ra.

Đến năm 2008, kinh tế-xã hội vùng miền núi dân tộc thiểu số của tỉnh đã có những đổi thay, tiến bộ và có nhiều thành tựu vượt trội so với thời kỳ trước đây.

là Chương trình 135 giai đoạn I và giai đoạn II, kết cấu hạ tầng tuyến xã, thôn vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh đã có đổi thay lớn so với năm 1998, trong đó có một số xã đã hoàn thiện, đồng bộ các công trình phục vụ sản xuất và đời sống. Vùng đặc biệt khó khăn đã có thêm trên 30 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, nâng tổng số có 51/63 xã có đường ôtô đến, ở các xã này người dân đã có điều kiện phát triển cây trồng, vật nuôi hàng hoá, hình thành kinh tế trang trại hộ gia đình; 60% số dân có điện thắp sáng; gần 90% số xã có trạm xá kiên cố; 90% xã và 50% thôn có trường học kiên cố; 60% dân số được dùng nước sạch… Kết thúc Chương trình 135 giai đoạn I, Quảng Nam có 10 xã ra khỏi diện xã đặc biệt khó khăn. Cùng nguồn vốn Chương trình 135, tỉnh đã quan tâm đầu tư từ nguồn ngân sách tỉnh để xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông đến các xã vùng cao, biên giới để tạo điều kiện đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất cây trồng, vật nuôi bán ra được ngoại vùng từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Những năm qua đã cơ bản kiểm soát các dịch bệnh, kịp thời dập dịch khi mới bùng phát. Cơ sở trường lớp tuyến xã, thôn được quan tâm đầu tư, tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường tăng cao; từng bước mở rộng cơ sở giáo dục mầm non lên các xã vùng cao, biên giới. Tỉnh đã có chính sách hỗ trợ để nâng cao chất lượng và tạo điều kiện phát triển số lượng của cấp học nội trú cụm xã, nội trú tỉnh. Nhiều giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc được nghiên cứu và có giải pháp bảo tồn, phát huy. Tỉ lệ giảm nghèo bình quân 5-7%/năm. Về cơ bản không còn hộ đói kinh niên.

Những thành tựu đạt được ở vùng dân tộc, miền núi tỉnh Quảng Nam là do các ngành, các địa phương thực hiện đồng bộ các chính sách dân tộc, miền núi của Đảng, Nhà nước của Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh; nâng cao nhận thức trách nhiệm, việc làm của các cấp, các ngành đối với sự nghiệp phát triển dân tộc và miền núi; sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của chính các huyện, xã và người dân. Từ đó đã tạo ra được sự chuyển biến mới, gặt hái được kết quả mới cao hơn trong thực hiện các chính sách dân tộc, đẩy nhanh tốc độ xoá đói giảm nghèo cho vùng miền núi nói chung và vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh nói riêng. Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Quảng Nam, Ban Dân tộc với trách nhiệm là cơ quan tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tổ chức thực hiện quản lý Nhà nước về công tác dân tộc ở địa phương, trực tiếp được Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao chủ trì một số chương trình, dự án, chính sách với tư cách là cơ quan trường trực Ban chỉ đạo cấp tỉnh đã có những đề xuất trong chỉ đạo với mục đích liên tục, thường xuyên, có điểm, có diện, đúng mục tiêu, nội dung đề ra của Chính phủ, phù hợp đặc thù của địa phương và của từng dân tộc. Trong tổ chức, coi trọng phân cấp cho các địa phương, coi trọng công tác thông tin, báo cáo dưới lên, trên xuống và phải về kiểm tra cơ sở, đến tận người dân hưởng lợi, đến tận công trình. Đối với một số chương trình, dự án Ban Dân tộc là cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo Chương trình 135 của tỉnh đã tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các ngành, địa phương triển khai đúng mục tiêu, nội dung, địa bàn, đối tượng theo quy định của Chính phủ. Trong đó đặc biệt là thực hiện cơ chế vận hành và các giải pháp để thực hiện phương châm “xã có công trình, dân có việc làm, tăng thu nhập để cải thiện đời sống”, đề ra chế tài buộc đơn vị thi công phải sử dụng lao động tại chỗ khi thi công công trình ở các xã. Thực tế ở nhiều xã 135 đã làm tốt nội dung này, người dân hồ hởi tham gia xây dựng công trình vì có nguồn thu, lại là làm công trình cho chính mình.

 Ban Dân tộc tỉnh cũng đã tham mưu và trực tiếp tổ chức thành công, có hiệu quả việc mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ xã, thôn thuộc Chương trình 135 theo phương pháp học lý thuyết 50% thời gian và nghiên cứu mô hình thực tế 50% thời gian với các nội dung phù hợp, sát yêu cầu thực tế, khi học xong có thể áp dụng được vào địa phương mình. Ngay khi triển khai thực hiện Quyết định 134 của Chính phủ, do tính chất đặc thù lợi ích của chương trình gắn kề, thiết thực với người dân, tăng tính hiệu quả “Nhà nước hỗ trợ, nhân dân tự làm, cộng đồng giúp đỡ”, phải tạo ra cuộc vận động sâu rộng trong nhân dân và với việc phải thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” nên trong việc thành lập Ban Chỉ đạo ở tỉnh, Ban Quản lý 134 ở các huyện, tổ quản lý ở các xã đều mời lãnh đạo của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tham gia vào làm phó ban. Nhờ làm tốt công tác vận động tuyên tryền nên sau hơn 3 năm thực hiện Quyết định 134, ở Quảng Nam đã có phong trào rất mạnh trong dân giúp nhau bằng ngày công lao động làm nhà và sự đóng góp của người dân trong xóa nhà tạm đạt 70,5% nguồn vốn nhà nước hỗ trợ.

 Bên cạnh đó, xuất phát từ thực tế và yêu cầu bức xúc của người dân, Ban Dân tộc đã tham mưu Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các địa phương thực hiện Quyết định 134 ưu tiên hàng đầu và tập trung vào nhiệm vụ xóa nhà tạm, đến nay đã xóa được trên 15 nghìn nhà, vượt so với đề án 137%, khả năng sẽ hoàn tất nhiệm vụ này trong năm 2008, trong khai thác gỗ làm nhà lấy cộng đồng và người dân ở cơ sở làm lực lượng giám sát, không để kẻ xấu lợi dụng khai thác gỗ trái phép. Trong những năm qua, Quảng Nam thực hiện chủ trương đóng cửa rừng, không khai thác rừng tự nhiên và triển khai thí điểm giao đất khoán rừng cho hơn 148 cộng đồng làng quản lý, bảo vệ, hưởng lợi theo quy ước của làng và luật pháp, ở các địa phương miền núi bước đầu mang lại hiệu quả, người dân ủng hộ, từng bước xác lập đất, rừng có chủ, rừng được giữ, quản lý bảo vệ tốt hơn, người dân nhận thức về trách nhiệm và quyền lợi của mình đối với tài sản Nhà nước giao.

Quá trình tổ chức thực hiện, Ban Dân tộc đã phân công lãnh đạo và cán bộ theo dõi tình hình, trong đó dành nhiều thời gian với người dân để nắm bắt nguyện vọng, tâm tư của đồng bào qua đó đã kịp thời phát hiện và tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo giải quyết các vướng mắc nhất là quyền và hưởng lợi của người dân. Cũng trong công tác tham mưu, Ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với các ngành tỉnh, các địa phương miền núi triển khai có kết quả chủ trương kết nghĩa giúp đỡ các xã nghèo miền núi của các ngành tỉnh, các huyện, thành phố. Hiệu quả chính là đã có nhiều tỷ đồng, nhiều sự giúp đỡ về phương tiện, trang thiết bị hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã, các thiết bị văn hóa, thông tin... được hỗ trợ về các xã. Đặc biệt là sự giúp đỡ, hỗ trợ trong giáo dục, đào tạo con em đồng bào dân tộc và bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ xã. Chủ trương kết nghĩa này đang được tiếp tục thực hiện ở Quảng Nam. Những năm qua, hiện nay và sắp đến ở vùng miền núi Quảng Nam đã đang và sẽ xây dựng nhiều công trình thủy điện bậc thang mà đối tượng cần tái định cư, thực hiện định canh hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số. Ban Dân tộc đã chủ động triển khai công tác nắm bắt tình hình và diễn biến thực hiện các chính sách nhất là đất sản xuất, nhà ở, các công trình phục vụ sản xuất, hỗ trợ đời sống… đối với người dân tái định cư. Nhờ vậy đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, đơn vị chủ đầu tư chỉ đạo, giải quyết các vướng mắc, các đề nghị chính đáng của người dân. Bên cạnh đó Ban Dân tộc đã đề xuất Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ các xã, thôn khôi phục các nhà sinh hoạt cộng đồng làng, đến nay đã trở thành một phong trào sâu rộng ở các thôn, làng vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh, có huyện đạt trên 80% số thôn, làng có nhà sinh hoạt cộng đồng.

Một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược, nặng nề trong công tác dân tộc ở địa phương đó là tham mưu cho Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo công tác đào tạo bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Ban Dân tộc đã phối hợp với các ngành chức năng, các địa phương xây dựng và trình Tỉnh ủy ban hành một nghị quyết chuyên đề về công tác này thực hiện cho đến năm 2010. Bên cạnh đó phát hiện nguyên nhân yếu kém chất lượng ở cấp học tiểu học trong hệ thống giáo dục vùng dân tộc thiểu số đã tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh có sự quan tâm đặc biệt trong chỉ đạo và đầu tư cho hệ giáo dục mầm non tuyến cơ sở xã, thôn, coi trọng việc xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và dạy tiếng, chữ phổ thông đối với giáo dục mầm non; xây dựng thành một đề án riêng để thực hiện cho đến năm 2015. Một thực tế cho thấy, để làm tốt, có hiệu quả trong công tác tham mưu về thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương, Ban Dân tộc luôn có sự phối kết hợp chặt chẽ, thường xuyên với các sở, ban, ngành liên quan ở tỉnh và các địa phương miền núi, có đồng bào dân tộc thiểu số khi triển khai các nhiệm vụ do Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao và Uỷ ban Dân tộc yêu cầu, hướng dẫn; bám vào các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, các hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương, Uỷ ban Dân tộc, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh để đề xuất nội dung, các giải pháp triển khai thực hiện phù hợp với đặc thù địa phương như xây dựng các đề án thực hiện Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị, triển khai Chương trình 135 giai đoạn II, Đề án thực hiện Quyết định 134, Quyết định 33.

Cho đến nay, bên cạnh những kết quả đạt được về phát triển kinh tế - xã hội trong các năm qua, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế với thực trạng đáng quan tâm nhất ở miền núi tỉnh Quảng Nam đó là cho đến nay tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo chuẩn mới còn trên 52%, so với các vùng khác trong tỉnh, có nhiều xã trên 90%. Một bộ phận dân cư thoát khỏi diện đói nghèo nhưng thiếu bền vững, bộ phận cận nghèo và tiềm ẩn tái nghèo rất cao; kể cả quay trở lại thiếu đói.

Do đặc điểm về tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với vùng cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số, nền sản xuất còn lạc hậu, kết cấu hạ tầng vùng miền núi, nhất là các xã vùng cao, biên giới và ở hai huyện mới chia tách Tây Giang và Nam Trà My còn quá yếu kém, toàn vùng còn trên 20 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm xã hoặc giao thông thông suốt cả hai mùa. Nguồn lực đầu tư hỗ trợ từ các chính sách của Nhà nước nhất là các chương trình, dự án mục tiêu Quốc gia trong thời gian qua đối với vùng dân tộc ít người, biên giới, vùng núi cao là khá lớn, ở Quảng Nam những năm qua, hàng năm trên 100 tỷ đồng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu bức thiết của người dân. Một số chương trình, dự án chính sách đề ra nhiều tham vọng về mục tiêu thực hiện nhưng không cân đối nguồn lực đầu tư hỗ trợ hằng năm đã được duyệt nhưng chưa được cấp vốn theo tiến độ đã phân kỳ… đang đặt ra cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội vùng miền núi, dân tộc thiểu số còn lắm khó khăn. Theo đó, công tác dân tộc của tỉnh và việc tham mưu của Ban Dân tộc còn nhiều khó khăn, trăn trở và nhiều việc phải làm; cần tiếp tục nâng cao năng lực nghiên cứu, nắm bắt thực tế; sự phối kết hợp liên ngành, địa phương; tăng cường đội ngũ cán bộ, tổ chức bộ máy để tham mưu giúp Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân trong điều hành và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, chính sách của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh; nhất là trong điều kiện thực hiện triệt để chủ trương phân cấp cho các địa phương tỉnh Quảng Nam. Để thực hiện Nghị quyết của Trung ương và Tỉnh uỷ về công tác dân tộc trong giai đoạn 2008-2010 và những năm tiếp theo; đẩy nhanh tốc độ, đạt hiệu quả bền vững mục tiêu giảm nghèo và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng vùng dân tộc thiểu số của tỉnh; từ thực tế ở Quảng Nam, do vẫn là một tỉnh nghèo, địa bàn miền núi, dân tộc thiểu số lớn. Vì vậy rất cần nhiều hơn nguồn lực đầu tư của Chính phủ, nhất là đầu tư cho phát triển giao thông đối với các xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã; xây dựng kết cấu hạ tầng ở hai huyện mới chia tách Tây Giang, Nam Trà My và Khu Kinh tế Cửa khẩu Đắc ốc (Nam Giang); các chính sách an sinh, phát triển sản xuất bền vững cho đồng bào tái định cư. Đối với một số chương trình, chính sách về dân tộc và miền núi như thực hiện Quyết định 134/QĐ-TTg, sau khi hoàn tất nội dung xóa nhà tạm, Chính phủ cần có chính sách để tiếp tục giải quyết nước sinh hoạt và đất sản xuất. Chính phủ quan tâm bố trí nguồn vốn thực hiện theo Nghị quyết số 39/NQ-TW của Bộ Chính trị và Quyết định 24 của Chính phủ tăng hơn những năm vừa qua; quan tâm tạo điều kiện cho các nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế vào đầu tư hỗ trợ vùng miền núi tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.

Đinh Mướk
Trưởng ban Dân tộc Quảng Nam

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,433


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs