Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/09/2008
Quản lý và phát triển lâm sản ngoài gỗ góp phần làm giàu cho Tây Nguyên
Lâm sản ngoài gỗ là những sản phẩm không phải gỗ có nguồn gốc sinh vật, được khai thác từ rừng tự nhiên hoặc rừng trồng có giá trị nhiều mặt, góp phần phát triển kinh tế-xã hội.

Lâm sản ngoài gỗ thể hiện sự đa dạng phong phú về chủng loại, có nguồn gốc từ thực vật, động vật, như: tre nứa, song mây, nấm, mật ong, sâm. cánh kiến, hổ phách..., hình thành bởi hai nguồn: nguồn phát triển tự nhiên và nguồn do con người nuôi trồng. Lâm sản ngoài gỗ phần lớn có giá trị kinh tế cao, cung cấp những sản phẩm có tác dụng nhiều mặt đối với đời sống con người, như: nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, sản xuất đồ gia dụng, thuốc chữa bệnh... Đặc biệt, phát triển lâm sản ngoài gỗ sẽ góp phần tăng cường đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gien, đảm bảo khả năng phòng hộ của rừng, giải quyết việc làm cho nông dân.
 
 Việt Nam, là quốc gia có tiềm năng phát triển lâm sản ngoài gỗ ở khu vực châu á, hiện có gần 1,6 triệu ha rừng đặc sản, với tổng sản lượng hàng năm lên đến trên 40.000 tấn. Trong đó, các nhà khoa học đã phát hiện có 3.830 loài cây thuốc, 500 loài cây tinh dầu, 620 loài nấm, 820 loài tảo, 186 loài thực vật đặc hữu chỉ có ở Việt Nam, 823 loài đặc hữu chỉ có ở Đông Dương. Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam đã được xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ, giai đoạn 2005-2007 giá trị xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ đem lại nguồn thu 400-500 triệu USD, bằng gần 20% tổng giá trị xuất khẩu đồ gỗ. Khai thác, chế biến lâm sản ngoài gỗ đã thu hút hàng trăm nghìn lao động, chủ yếu là ở nông thôn, miền núi góp phần đáng kể vào xoá đói, giảm nghèo ở các địa phương có rừng và đất rừng.
 
 Hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam đến năm 2020, sẽ có giá trị sản xuất lâm nghiệp; giá trị lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu tăng bình quân 10-15% và đến năm 2020 đạt 700-800 triệu USD/năm, bằng 30-40% giá trị xuất khẩu gỗ.
 
 Đối với rừng Tây Nguyên, ngoài thành phần các loài cây gỗ còn có rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ bao gồm cả thực vật và động vật.
 
  Do tính chất phong phú về loài nên lâm sản ngoài gỗ đã góp phần quan trọng làm tăng tính đa dạng sinh học của vùng. Mặt khác, thói quen sử dụng lâm sản ngoài gỗ đã gắn liền với cuộc sống hàng ngày của các cộng đồng dân cư sống gần rừng. Trên thực tế ở nhiều nơi lâm sản ngoài gỗ là một trong những nguồn thu nhập chính của người dân điều đó cho thấy lâm sản ngoài gỗ đang dần khẳng định là thành phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế-xã hội của vùng, góp phần bảo tồn rừng và đa dạng sinh học. Hiện rừng Tây Nguyên có hơn 4.000 loài cây rừng, trong đó có hơn 3.500 loài là lâm sản ngoài gỗ với khoảng 3.100 loài được tính sử dụng làm thuốc (Theo thống kê của Viện Dược Liệu - Cây thuốc Việt Nam). Đặc biệt, trữ lượng tre nứa của Tây Nguyên giữ vị trí đứng đầu cả nước với 2.107,8 triệu cây (trong đó: Kon Tum 919,2 triệu cây; Gia Lai 130,5 triệu cây; Lâm Đồng 345,4 triệu cây và Đăk Lăk, Đăk Nông 712,8 triệu cây, đàn ong của Tây Nguyên hiện lên tới 20.933 đàn, cung cấp khoảng 30 nghìn tấn/mật ong.
 
 Tuy nhiên, Tây Nguyên cũng giống như nhiều vùng miền khác của Việt Nam, việc sử dụng rừng chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên sẵn có, ít quan tâm đến bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Điều này dẫn đến nguồn tài nguyên rừng ở khu vực ngày càng cạn kiệt, tất yếu sẽ làm suy giảm tính đa dạng sinh học của rừng và ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của người dân sống dựa vào rừng.
 Những hạn chế chủ yếu trong quản lý nhà nước về lâm sản ngoài gỗ ở Tây Nguyên hiện nay là: toàn vùng chưa có quy hoạch, kế hoạch tổng thể về phát triển lâm sản ngoài gỗ, các loại lâm sản ngoài gỗ chưa thực sự được quan tâm bảo tồn, phát triển và khai thác. Những năm gần đây Nhà nước tuy đã có chính sách giao rừng và đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để rừng có chủ thực sự, tuy nhiên chỉ mới chú ý đến phát triển về cây gỗ, còn với lâm sản ngoài gỗ vẫn bị thả nổi chưa được quan tâm thực sự. Nhiều lâm trường quốc doanh được giao quản lý sử dụng hàng nghìn ha rừng tự nhiên, nhưng hoàn toàn không quan tâm và không có năng lực sản xuất kinh doanh lâm sản ngoài gỗ. Tây Nguyên có khoảng 70% diện tích rừng đã có chủ, nhưng chưa có động lực kinh tế để chủ rừng tham gia tích cực vào việc bảo vệ và phát triển rừng nói chung và lâm sản ngoài gỗ nói riêng.
 
  Trên thực tế lâm sản ngoài gỗ chưa được điều tra, xác định, phân định rõ ràng trên bản đồ và ngoài thực địa, chưa tiến hành lập hồ sơ phục vụ cho công tác quản lý. Các chủ rừng trên địa bàn chỉ mới tập trung thống kê các số liệu về gỗ, còn các lâm sản ngoài gỗ chưa được quan tâm đúng mức. Một số xã nơi có rừng chưa thực hiện việc thống kê, kiểm kê đối với những diện tích lâm sản ngoài gỗ được giao, được cho thuê và theo dõi diễn biến tài nguyên. Việc khai thác lâm sản ngoài gỗ còn mang tính tự phát, phân tán, chưa có quy hoạch, còn lãng phí, hiệu quả kinh tế rất thấp. Phần lớn các cơ sở chế biến lâm sản ngoài gỗ đều có quy mô nhỏ, không gắn với vùng nguyên liệu ổn định, công nghệ và thiết bị lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã bao bì còn hạn chế nên tính cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế chưa cao. Mối quan hệ giữa sản xuất, khai thác lâm sản ngoài gỗ và bảo tồn đa dạng sinh học hầu như chưa được thể chế hóa. Có thể nói, trừ hàng thủ công mỹ nghệ còn hầu hết hàng lâm sản ngoài gỗ khác của Tây Nguyên chỉ xuất khẩu ở dạng thô hoặc sơ chế, như rửa sạch, phơi khô, chưng cất đơn giản mà chưa có nhiều sản phẩm tinh chế nên giá trị kinh tế không cao. Mặt khác, việc sản xuất hàng lâm sản ngoài gỗ trong vùng rất manh mún, phân tán, không có những vùng sản xuất hàng hoá lớn, cho tới nay việc khai thác lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao dưới tán rừng vẫn ngoài tầm kiểm soát của cơ quan quản lý, bảo vệ rừng. Hầu hết các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu của Tây Nguyên có số lượng nhỏ lại không ổn định, giá cả bấp bênh, thất thường, thiếu sự thống nhất chỉ đạo của các cấp chính quyền, vì vậy mặc dù hàng năm tăng đều từ 15-30% song chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.
 
 Rõ ràng lâm sản ngoài gỗ của vùng đang đứng trước các thách thức đáng lo ngại, đó là:
 
 Nguy cơ cạn kiệt lâm sản ngoài gỗ ở Tây Nguyên đang ở mức báo động. Việc khai thác tự phát quá mức các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, thiếu việc tổ chức quản lý từ khâu quy hoạch đến tổ chức bảo vệ và phát triển trồng mới, đã khiến cho nguồn hàng hoá này nhanh chóng suy giảm kể cả về diện tích và chất lượng.
 
 Sản phẩm giá trị thấp hoặc ít giá trị gia tăng, dẫn đến thu nhập thấp thiếu sự kích thích, làm cho nông dân không quan tâm nhiều cho đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu, do vậy nguyên liệu ngày càng nghèo nàn và cạn kiệt. Trên thực tế lâm sản ngoài gỗ chưa thể hiện được vai trò xóa đói giảm nghèo cho nông dân vùng có rừng.
 
 Năng lực quản lý của các ngành chức năng trên địa bàn còn quá nhiều hạn chế, vì vậy chưa thực hiện việc thu hút và gắn kết giữa các chủ rừng, các hộ và tất cả các đối tượng liên quan tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển lâm sản ngoài gỗ một cách bền vững.
 
 Trước thực trạng trên, trước mắt cần tập trung chỉ đạo bốn nhiệm vụ phát triển lâm sản ngoài gỗ đó là: 1, Tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý và nghiên cứu về sử dụng lâm sản ngoài gỗ; 2, Xây dựng các phương thức bảo vệ, phát triển lâm sản ngoài gỗ; 3, Nghiên cứu thị trường sản xuất và tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ có sự tham gia của Nhà nước; 4, Thúc đẩy nghiên cứu về công nghiệp chế biến, bảo quản lâm sản ngoài gỗ sau thu hoạch. Mặt khác, nên đổi mới quản lý lâm sản ngoài gỗ theo hướng:
 
 Thứ nhất, Về quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển lâm sản ngoài gỗ toàn vùng cần dựa trên cơ sở tổ chức nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, tình hình về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hiện trạng tài nguyên gỗ và lâm sản ngoài gỗ từ cấp xã trở lên. Tổ chức xây dựng phương hướng, mục tiêu bảo vệ, phát triển và sử dụng lâm sản ngoài gỗ trong kỳ quy hoạch, kế hoạch. Xác định diện tích và sự phân bố các loại lâm sản ngoài gỗ trong kỳ quy hoạch, kế hoạch. Có biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển các loại lâm sản cụ thể trên từng địa bàn xã, huyện. Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch chung toàn vùng, cần lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển lâm sản ngoài gỗ của từng tỉnh và trên cơ sở quy hoạch của cấp tỉnh chính quyền cấp huyện, cấp xã tổ chức việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển lâm sản ngoài gỗ trong khuôn khổ của cấp mình.
 
 Thứ hai, Tiến hành điều tra, thống kê, đánh giá để nắm thật chắc tình hình diễn biến tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, nhất là các loài đặc hữu có giá trị đặc biệt về kinh tế, về nghiên cứu khoa học làm cơ sở cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển lâm sản ngoài gỗ bền vững. Xây dựng và thực hiện chương trình giám sát các loài hệ động thực vật có nguy cơ bị tiêu diệt để theo dõi và xử lý kịp thời.
 
 Khôi phục diện tích lâm sản ngoài gỗ bị mất và những nơi chất lượng rừng thấp. Đồng thời tiến hành nghiên cứu các loài động, thực vật có giá trị kinh tế cao để đưa vào gieo trồng và gây nuôi. Nghiên cứu các biện pháp để sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên động, thực vật. Xây dựng ngân hàng dữ liệu, ngân hàng gien về đa dạng sinh học, về các loài quý hiếm cho toàn vùng và cho từng tỉnh.
 
 Thứ ba, Về tổ chức phát triển lâm sản ngoài gỗ, nên phát triển theo hai loại hình: tập trung và phân tán. Xây dựng các khu rừng lâm sản ngoài gỗ tập trung ở những nơi có diện tích lớn, điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, liền vùng thuận lợi cho quản lý và tổ chức tiêu thụ, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ các khu rừng lâm đặc sản, ưu tiên trồng mới các loài có nhiều tác dụng, cho sản phẩm thu hoạch hàng năm: nhựa, hoa, lá, măng và các cây trồng là các loại cây ăn quả có kích thước lớn có khả năng đem lại giá trị kinh tế cao như bơ, vải, nhãn, xoài, mít..., tăng thu nhập cho đồng bào. Những nơi không có điều kiện phát triển lâm sản ngoài gỗ tập trung, nên động viên đồng bào trồng các loại cây phân tán, tận dụng tối đa quỹ đất trong các vườn hộ, trong khu ở dân cư cho việc trồng mới lâm sản ngoài gỗ tránh để lãng phí. Đối với rừng sản xuất dành để trồng các loài lâm sản ngoài gỗ, cần tiến hành điều tra toàn diện về đất đai nhằm quyết định phương án tối ưu nhất cho lựa chọn cây trồng. Xây dựng chương trình trồng lâm sản ngoài gỗ thích hợp, trong đó tận dụng tối đa các vùng đất trống, đồi núi trọc. Huy động và khuyến khích mọi thành phần kinh tế, kể cả trong và ngoài nước tham gia đầu tư thông qua việc cho thuê đất đai dài hạn. Để trồng lâm sản ngoài gỗ đạt hiệu quả cao cần thực hiện phương châm “người sản xuất và người chế biến cùng trồng rừng”, có như vậy sẽ đáp ứng nhu cầu trực tiếp cho công nghiệp chế biến và muốn có nguồn nguyên liệu ổn định thì người chế biến sẽ phải tính việc đầu tư (đặt hàng), tạo ra mối quan hệ khăng khít lâu dài.
 
 Thứ tư, Việc khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ phải nhất thiết dựa trên kế hoạch đã được lập ra, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng. Đảm bảo sự cân đối, hài hòa trong việc khai thác từ tổng quỹ tài nguyên rừng hiện có với các loại lâm sản ngoài gỗ, chống các khuynh hướng tùy tiện, tự do trong khai thác và sử dụng tài nguyên rừng. Tổ chức ngăn chặn và xử lý tình trạng khai thác quá mức làm suy thoái, cạn kiệt các loài lâm sản ngoài gỗ. Điều tra nắm thật kỹ việc khai thác buôn bán trái phép lâm sản ngoài gỗ trong vùng và qua các cửa khẩu trên địa bàn, có biện pháp xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm.
 
 Để đảm bảo tính khả thi khi triển khai công tác quản lý lâm sản ngoài gỗ, trước hết cần đổi mới về mặt nhận thức của chính quyền các cấp, của cán bộ và nhân dân trong vùng về vai trò, về giá trị kinh tế của lâm sản ngoài gỗ, có sự phối hợp đồng bộ trong việc bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, khai thác và sử dụng các loài lâm sản ngoài gỗ một cách hiệu quả, bền vững. Sớm sửa đổi bổ sung một số chính sách nhằm khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh lâm sản ngoài gỗ và giảm đói nghèo cho đồng bào theo hướng bãi bỏ giấy phép khai thác, miễn thuế tài nguyên đối với lâm sản ngoài gỗ một thời gian từ 5-10 năm. Đề nghị Ngân hàng Chính sách-xã hội giải quyết cho cộng đồng và hộ gia đình vay vốn không lãi, thời hạn vay bằng 2-3 lần chu kỳ gây trồng và khai thác lâm sản ngoài gỗ; Tập trung đầu tư cho chất lượng, từng bước mở rộng quy mô diện tích và nhân rộng mô hình phát triển. Tổ chức tham quan học tập, tập huấn, xây dựng và triển khai thực hiện các mô hình, trang bị cho người dân kiến thức khoa học, kinh nghiệm làm giàu rừng, khai thác rừng bền vững; kỹ thuật nhân giống các loại cây, như ghép, gieo hạt, quy trình nuôi, trồng và kỹ thuật bảo quản, chế biến một số sản phẩm từ lâm sản ngoài gỗ; Tuyên truyền sâu rộng về giá trị và nguồn lợi của lâm sản ngoài gỗ, đồng thời đề cao vai trò của người dân địa phương trong việc bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ, hạn chế tình trạng chặt phá rừng bừa bãi. Trước hết các cấp chính quyền cần có kế hoạch hành động cụ thể bằng cách hỗ trợ kỹ thuật cũng như đầu tư vốn ban đầu cho bà con địa phương trồng rừng đảm bảo phương châm vừa khai thác giá trị kinh tế, vừa giữ vững và bảo tồn sự đa dạng sinh học; áp dụng mô hình quản lý rừng cộng đồng, đảm bảo cho người dân các địa phương có cơ hội tham gia quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn. Cơ quan lâm nghiệp địa phương hướng dẫn và trợ giúp cho cộng đồng, hộ gia đình điều tra về tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, lập kế hoạch khai thác hợp lý và tổ chức bảo vệ có hiệu quả; Tổ chức mạng lưới khuyến lâm và khuyến công, khuyến thị về lâm sản ngoài gỗ bao gồm cả chế biến, bảo quản sau thu hoạch và thị trường. Có biện pháp thu hút các hộ, cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản ngoài gỗ trên địa bàn huyện, tỉnh tuỳ theo ngành hàng: song mây, dược liệu, thực phẩm vào mạng lưới này. Cần nghiên cứu thị trường lâm sản ngoài gỗ bắt đầu từ thị trường tiểu vùng hình thành lâu đời, phản ánh tiềm năng của địa phương. Lựa chọn những mặt hàng có ưu thế cạnh tranh về giá cả, khối lượng tiêu thụ, phương thức tiêu thụ. Miễn giảm thuế buôn chuyến, thuế VAT đối với hoạt động buôn bán, chế biến lâm sản ngoài gỗ trên địa bàn ở những huyện còn tỷ lệ đói nghèo cao.
 
 Tóm lại, quản lý phát triển lâm sản ngoài gỗ trên địa bàn Tây Nguyên là giải pháp mà cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy hoàn toàn phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của vùng. Nhằm khắc phục tình trạng khai thác, sử dụng gỗ quá mức hiện nay, góp phần làm tăng trưởng diện tích và chất lượng rừng, đảm bảo an ninh môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ hệ sinh thái. Phát triển lâm sản ngoài gỗ sẽ đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, cung cấp các sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Đảm bảo an toàn sinh kế cho nông dân vùng có rừng, thực hiện xoá đói giảm nghèo, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng và góp phần làm giàu cho Tây Nguyên.

 ThS.Nguyễn Huy Hoàng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,795


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs