Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/09/2008
Một số bất cập về chính sách phát triển giáo dục-đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số


Giờ học vi tính của các em học sinh Trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng.

Hiện nay hệ thống mạng lưới trường, lớp phục vụ cho việc dạy và học phát triển rộng khắp ở vùng dân tộc, 100% số xã có trường tiểu học hoàn chỉnh, các điểm trường lẻ, lớp “cắm bản”, lớp mẫu giáo được mở ở hầu hết các thôn bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn.

Hầu hết các xã đã có trường trung học cơ sở, các huyện có trường trung học phổ thông, nhiều huyện có thêm trường phổ thông dân tộc nội trú cụm xã. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học được xây dựng và phát triển ở các khu vực trong đó có vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, hệ thống trường đặc thù ở vùng dân tộc như: Phổ thông dân tộc nội trú, Dự bị đại học dân tộc phát triển mạnh mẽ về quy mô mạng lưới. Năm học 2006-2007, trường Phổ thông dân tộc nội trú đã mở rộng đến 49 tỉnh, tổng số 280 trường, gồm 7 trường Trung ương, 47 trường tỉnh, 226 trường huyện và cụm xã, với trên 85.000 học sinh. Quy mô học sinh tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở vùng dân tộc ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, học sinh là người dân tộc đến lớp tăng hàng năm. Năm học 2006-2007 tỷ lệ học sinh dân tộc chiếm 17,68% cấp tiểu học, 14,78% cấp trung học cơ sở, 10,32% cấp trung học phổ thông. Cơ sở trường lớp ở vùng dân tộc đã được nâng cấp một bước, tạo điều kiện thuận lợi cho con em đồng bào các dân tộc ở vùng khó khăn tiếp cận được với giáo dục. Đã có nhiều cán bộ là người dân tộc thiểu số được đào tạo và rèn luyện khi ra trường có phẩm chất, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi.
 
 Để phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm thông qua nhiều chính sách ưu tiên cho công tác giáo dục và đào tạo như: Chính sách ưu đãi đối với cán bộ quản lý và nhà giáo công tác ở vùng dân tộc theo Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ; Chính sách ưu đãi đối với học sinh dân tộc thiểu số được thực hiện theo Quyết định số 152/2007/QĐ-TTg ngày 14/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về học bổng đối với học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị giáo dục với chương trình kiên cố hoá trường, lớp học. Thực hiện theo Quyết định số 159/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ (giai đoạn I từ năm 2002 đến 2005 và giai đoạn II từ năm 2008 đến 2012).
 
 Ngoài ra còn có các chương trình, dự án khác như: Chương trình phát triển kinh tế-xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn, theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong các hạng mục của chương trình có hạng mục xây dựng kiên cố hoá trường học; Chương trình mục tiêu Quốc gia giáo dục và đào tạo (Dự án Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số và vùng có nhiều khó khăn); Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; Dự án phát triển giáo dục trung học cơ sở; Dự án phát triền giáo dục trung học phổ thông.
 
 Trang thiết bị giáo dục cũng được ưu tiên đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số, như trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập (máy vi tính, dụng cụ thí nghiệm, sách tham khảo...), cấp sách giáo khoa, hỗ trợ học phẩm tối thiểu cho học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn ở vùng dân tộc thiểu số.
 
 Đối với loại hình giáo dục đào tạo có tính chất chuyên biệt có chính sách riêng, như chính sách đối với trường phổ thông dân tộc nội trú. Trường phổ thông dân tộc nội trú được thành lập với mục đích là tạo nguồn đào tạo cán bộ cho vùng dân tộc thiểu số. Đối tượng tuyển sinh là thanh thiếu niên các dân tộc thiều số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh, biên giới, hải đảo, có đủ các tiêu chuẩn về hạnh kiểm, học lực, sức khoẻ, tuổi... được tuyển chọn vào học trường phổ thông dân tộc nội trú. Quy mô đối với trường phổ thông dân tộc nội trú: trường Trung ương từ 500 đến 600 học sinh, trường tỉnh từ 300 đến 400 học sinh, trường huyện từ 150 đến 200 học sinh và trường cụm xã từ 50 đến 100 học sinh. Hiện nay, huyện và cụm xã mở cấp trung học cơ sở, tỉnh mở cấp trung học phổ thông, các trường ở các khu vực của Trung ương chỉ mở dự bị đại học và một số lớp thuộc hệ năng khiếu đặc biệt theo yêu cầu của các Bộ. Chính sách cử tuyển và dự bị đại học dân tộc được triển khai thực hiện từ năm 1990 với mục đích đào tạo nguồn cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số ở khu vực các xã đặc biệt khó khăn. Hiện nay đang thực hiện theo Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ và theo thông tư liên tịch số 13/2008/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC-UBDT-BNV ngày 07/3/2008.
 
 Chính sách dự bị đại học dân tộc được thực hiện theo Quyết định số 214/CP ngày 26/11/1975 của Chính phủ. Đối tượng là học sinh người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú 3 năm liên tục trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, có bằng tốt nghiệp trình độ phổ thông trung học, thi tuyển sinh không đỗ vào đại học, được xét tuyển vào học. Căn cứ điểm thi đại học (không có điểm liệt của 3 môn thi đại học) để xét tuyển sinh theo nguyên tắc từ cao xuống thấp và có ưu tiên theo khu vực. Nhiệm vụ của trường là trong thời gian một năm bổ túc nâng cao trình độ văn hoá cho học sinh có đủ trình độ vào đại học.
 
 Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định góp phần tích cực vào sự phát triển của đất nước, song để theo kịp với sự phát triển chung của đất nước và khu vực, chính sách phát triển giáo dục-đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế. Cụ thể: Chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục ở vùng dân tộc hiện nay chưa đủ mạnh để khuyến khích giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tâm huyết, cống hiến hết khả năng của mình cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo vùng dân tộc. Chế độ tiền lương và phụ cấp như hiện nay chưa thu hút được giáo viên tình nguyện đến công tác ở vùng dân tộc khó khăn; những chế độ chính sách này được thực hiện theo Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ vẫn có những điềm bất cập đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại các thị trấn, thị xã ở các tỉnh vùng cao, miền núi.
 
 Về chính sách đối với học sinh dân tộc hiện nay, chỉ có học sinh, sinh viên cử tuyển, dự bị đại học dân tộc, trường phổ thông dân tộc nội trú được hưởng học bổng chính sách. Học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số ở vùng cao đang học tại các cơ sở đào tạo công lập, hệ chính quy, dài hạn được hưởng trợ cấp xã hội; học sinh nghèo là người dân tộc thiểu số được hưởng chính sách miễn giảm học phí.
 
 Ngoài các đối tượng trên, Nhà nước chưa có chính sách miễn giảm học phí cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
 
 Chưa có chính sách hỗ trợ học sinh dân lộc thiểu số học tại các trường phổ thông bán trú ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi.
 
 Chế độ học bổng tuy được điều chỉnh theo mức lương cơ bản (hiện bằng 80% mức lương cơ bản), song việc tăng mức học bổng không theo kịp với tốc độ tăng của chỉ số giá cả sinh hoạt và tiêu dùng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến học tập và đời sống sinh hoạt của học sinh.
 
 Chưa có những giải pháp phù hợp đào tạo đại học đối với học sinh dân tộc thiểu số. Hiện nay học sinh là người dân tộc thiểu số học tại các trường đại học khu vực Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ có tỷ lệ rất thấp. ở Đại học Thái Nguyên chỉ có gần 20% là học sinh dân tộc thiểu số được vào học. Để đảm bảo nguồn đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số không bị thiếu và yếu như hiện nay và bảo đảm sự bình đẳng trong giáo dục-đào tạo, cần phải có chính sách ưu tiên học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số tại các trường đại học ở các khu vực để tỷ lệ vào học cao hơn như hiện nay.
 
 Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học nghèo nàn, các phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập còn thiếu thốn, tài liệu, sách giáo khoa không đảm bảo… chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo, hình thức và phương pháp giáo dục hiện đại.
 
 Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú hiện chưa đáp ứng theo Quyết định số 2590/GD-ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo là mỗi tỉnh có 1 trường trung học phổ thông dân tộc nội trú; mỗi huyện và cụm xã có 1 trường trung học cơ sở phổ thông dân tộc nội trú.
 
 Quy định số lượng tuyển sinh cho từng cấp học rất hạn chế. Theo quyết định số 2590/GD-ĐT, trường Trung ương có quy mô từ 500-600 học sinh, trường tỉnh từ 300-400 học sinh, trường huyện từ 150-250 học sinh, trường cụm xã từ 50-100 học sinh. Như vậy số lượng học sinh vào học quá ít so với nhu cầu của địa phương và nguyện vọng của đồng bào các dân tộc.
 
 Vấn đề đào tạo liên thông giữa trung học phổ thông dân tộc nội trú và trung học cơ sở phổ thông dân tộc nội trú; liên thông giữa bậc phổ thông dân tộc nội trú với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề chưa được thực hiện.
 
 Theo báo cáo tổng kết 10 năm Trường phổ thông dân tộc nội trú của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học của hệ phổ thông dân tộc nội trú hàng năm thi vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đạt tỷ lệ 41,3% (trong đó có 15% là học sinh cử tuyển); số còn lại đi học nghề và đại đa số là trở về địa phương sản xuất.
 
 Về chính sách cử tuyển học sinh vào học các trường đại học, cao đẳng, quy định chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm như hiện nay là không phù hợp, vì chỉ tiêu giao cho các tỉnh không sát thực tế, có tỉnh tuyển sinh vượt chỉ tiêu như Cao Bằng 111%, Bắc Cạn 106,7%, Thanh Hoá 105,2%; ngược lại một số tỉnh chỉ tiêu đạt thấp như Lai Châu đạt 77,1%, Bình Thuận 70,2%, Kon Tum 74,1%, Bình Dương 57,6%, Đồng Nai 44,1%... Tổng chỉ tiêu hàng năm quá ít so với nhu cầu, cụ thể từ năm 2002 trở về trước, hàng năm chỉ tiêu chưa đến 1.000 học sinh/năm (năm 2000 là 970 học sinh, năm 2002 là 930 học sinh). Từ năm 2004 đến nay, chỉ tiêu hàng năm có tăng lên nhưng không đáng kể (năm 2004 là 1.130 học sinh, năm 2006 là 1.780 học sinh). Ngành nghề đào tạo chưa phù hợp, có ngành nghề khi ra trường về địa phương thì dư thừa, địa phương không sử dụng được, trong khi đó ở địa phương vẫn thiếu cán bộ. Cử tuyển hàng năm vào đại học, cao đẳng không gắn với trường phổ thông dân tộc nội trú để tuyển sinh mà lại tuyển sinh riêng ở các địa phương, do đó một số lượng lớn các em là tạo nguồn đào tạo ở trường phổ thông dân tộc nội trú không được tiếp tục học lên. Hình thức đào tạo cử tuyển hiện nay ở các trường đại học vẫn tổ chức lớp riêng, vì vậy sinh viên cử tuyển không có cơ hội để hoà nhập; chất lượng giáo dục vẫn yếu so với mặt bằng chất lượng chung. Mặc khác ở một số địa phương không theo dõi chặt chẽ quá trình học tập và sau khi tốt nghiệp ra trường của sinh viên cử tuyển được địa phương cử đi đào tạo. Theo báo cáo giám sát của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá XI, số sinh viên tốt nghiệp cử tuyển trở về địa phương công tác chỉ đạt 80,7%, số còn lại đi đâu tỉnh không rõ. Như vậy, việc sử dụng sinh viên cử tuyển sau khi tốt nghiệp còn bất cập, số sinh viên không trở về công tác theo cam kết cũng chưa có biện pháp xử lý, chưa thực hiện bồi hoàn kinh phí đào tạo. Một số địa phương không bố trí sử dụng hết số cán bộ này, do liên quan đến biên chế, ngành nghề đào tạo chưa phù hợp. Đó chính là sự thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách cán bộ, chưa gắn đào tạo với quy hoạch và sử dụng cán bộ.
 
 Về tổ chức các trường dự bị đại học dân tộc, trường dự bị đại học dân tộc là loại trường phù hợp với tình hình đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số hiện nay. Nhưng chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm quá ít không đáp ứng được nhu cầu đào tạo. Hàng năm các trường chỉ được tuyển sinh từ 450 đến 550 học sinh. Ngoài 4 trường ở 4 vùng miền, hiện còn có 5 khoa dự bị đại học dân tộc tại các trường đại học Lâm nghiệp, Thuỷ lợi, Tây Bắc, Tây Nguyên và Cần Thơ, mỗi trường được tuyển sinh từ 40 đến 100 học sinh/năm.
 
 Từ những hạn chế, bất cập trên để phát triển giáo dục và đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay, đề nghị các cơ quan chức năng tiến hành rà soát lại một số chính sách giáo dục vùng dân tộc thiểu số hiện hành, xem xét những bất cập, tồn tại và kiến nghị với Chính phủ bổ sung, sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế. Bổ sung, sửa đổi Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; bổ sung, sửa đổi chính sách cử tuyển, căn cứ theo nhu cầu của từng địa phương về đào tạo cán bộ, cơ cấu ngành nghề; cơ cấu dân tộc để tuyển sinh và tổ chức đào tạo. Hàng năm không khống chế về số lượng tuyển sinh như hiện nay. Nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi chính sách dự bị đại học gắn với chính sách cử tuyển ở các trường phổ thông dân tộc nội trú và nhu cầu đào tạo cán bộ ở các địa phương có khu vực đặc biệt khó khăn, các dân tộc rất ít người; bổ sung chính sách đối với hệ giáo dục mầm non vùng đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách hỗ trợ trường bán trú dân nuôi ở vùng dân tộc thiểu số.
 
 Đề nghị có cơ chế đào tạo liên thông đối với học sinh dân tộc thiểu số học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú. Đào tạo liên thông giữa cấp trung học cơ sở với cấp trung học phổ thông ở các trường phổ thông dân tộc nội trú. Đào tạo liên thông giữa hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Cụ thể: Trường phổ thông dân tộc nội trú ở huyện gồm cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông; tổ chức mô hình liên thông đào tạo học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông dân tộc nội trú với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Hiện nay nhiều em tốt nghiệp trung học phổ thông thi không đỗ đại học, cao đẳng lại trở về địa phương sản xuất, gây lãng phí kinh phí đào tạo của Nhà nước, đồng thời lãng phí nguồn nhân lực cho vùng này. Vì vậy cần có cơ chế, chính sách đào tạo liên thông đối với học sinh học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú.
 
 Đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ về phương thức tuyển sinh và đào tạo đặc thù đối với học sinh dân tộc thiểu số tại các trường Đại học khu vực Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ bởi hiện nay tỷ lệ học sinh vào học đại học, cao đẳng quá thấp tại các trường đại học khu vực.
 
 Đề xuất thành lập Học viện Dân tộc tại Hà Nội, đây sẽ là cơ sở đào tạo nguồn cán bộ quản lý và đội ngũ cán bộ khoa học, đáp ứng nhu cầu phát triển vùng dân tộc thiểu số. Học viện Dân tộc có nhiệm vụ: Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số làm nòng cốt ở vùng dân tộc thiểu số; Nghiên cứu, đề xuất chiến lược về chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Đinh Tuấn

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,913,212


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs