Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/09/2008
Về thực hiện đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở các vùng dân tộc thiểu số
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX trong đánh giá về những hạn chế, yếu kém của công tác dân tộc sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới đã chỉ rõ: “Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc và miền núi còn yếu: trình độ của đội ngũ cán bộ còn thấp, công tác phát triển đảng chậm; cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào.

Ở một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường, trái pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán của nhân dân; một số nơi đồng bào bị các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kích động, lôi kéo vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc”.
 
  Đồng thời chỉ ra, những nguyên nhân chủ quan dẫn đến những hạn chế, yếu kém trong thực hiện chính sách dân tộc, công tác dân tộc, cùng những nguyên nhân liên quan trực tiếp đến tổ chức, vận hành của hệ thống chính trị cấp cơ sở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đó là: “Đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm. Bộ máy đảng và chính quyền các cấp ở nhiều nơi còn quan liêu, xa dân, chưa sâu sát thực tế, chưa nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của đồng bào. Một số nơi còn để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, vi phạm chính sách dân tộc, làm giảm lòng tin của đồng bào. Trong quản lý, điều hành lại buông lỏng công tác kiểm tra, thanh tra, để nhiều sai phạm kéo dài”.
 
 Hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc, vấn đề đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta vẫn đang là vấn đề mang ý nghĩa thời sự bức xúc. Trong nhận thức và lý luận về vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở nói chung, của hệ thống chính trị cấp cơ sở các vùng dân tộc thiểu số nói riêng, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, xã, phường, thị trấn đã khẳng định: “Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư”.
 
 Để thực hiện tốt chính sách dân tộc, công tác dân tộc trong điều kiện hiện nay, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi bởi đây là cấp gần dân nhất, là cầu nối giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có thực hiện được đúng, đầy đủ hay không đều phải thông qua việc tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị cấp cơ sở. Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở các vùng dân tộc thiểu số bao gồm việc đổi mới cơ cấu tổ chức, bộ máy, cán bộ và đặc biệt là đổi mới nội dung, phương thức (cách thức) hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở; trực tiếp nhất là việc tạo lập các mối quan hệ giữa các thành viên trong hệ thống chính trị (giữa tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân) gắn với việc thực hiện đúng chức năng của các thành viên trong hệ thống chính trị.
 
 Tuy nhiên, hàng loạt vấn đề thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi phải được khái quát, làm sáng tỏ về lý luận, nhận thức: hệ thống chính trị cấp cơ sở vùng dân tộc thiểu số có nhiều đặc điểm khác với hệ thống chính trị cấp cơ sở trong cả nước nói chung. Đó là sự tác động từ những yếu tố thuộc thiết chế xã hội truyền thống (tổ chức buôn, làng, bản...) của các vùng dân tộc thiểu số; từ phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa truyền thống của cư dân các dân tộc thiểu số. Nhiều vấn đề liên quan đến quan hệ tộc người cần phải giải quyết trong hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số cũng có những yêu cầu, đòi hỏi riêng gắn với công tác tạo nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số. Do đó, đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở các vùng dân tộc thiểu số từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX sẽ góp phần tổng kết thực tiễn nhằm phát triển lý luận về đổi mới hệ thống chính trị ở các vùng dân cư có tính đặc thù.
 
 Chỉ riêng khu vực Tây Nguyên, theo một số công trình khảo sát gần đây của Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh cho thấy việc củng cố, đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở đã được chú trọng trên nhiều phương diện:
 
 Các tổ chức cơ sở đảng đã được quan tâm xây dựng, phát triển. Hiện các tỉnh Tây Nguyên có 634 tổ chức cơ sở đảng cấp xã với 45.762 trong tổng số 82.738 đảng viên của toàn vùng. Trong lãnh đạo Tỉnh ủy, các tỉnh đều có thêm 1 chức danh Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách hệ thống chính trị cơ sở. Bộ máy chính quyền cơ sở đã và đang được củng cố, kiện toàn. Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đang được củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động.
 
 Thành tựu trong đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở trong những năm gần đây thể hiện qua việc phân loại đánh giá về chất lượng hoạt động của các tổ chức như sau: Có khoảng 68% tổ chức cơ sở đảng được xếp loại trong sạch, vững mạnh, 29% loại khá, 3% yếu kém; Có 47,5% số Hội đồng nhân dân và 44,5% Uỷ ban nhân dân được xếp loại vững mạnh và khá, khoảng 10% Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xếp loại yếu kém. Đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, có 45,5% Mặt trận Tổ quốc cấp cơ sở được xếp loại khá và vững mạnh. Cùng loại trên, Đoàn thanh niên là 30,4%; Hội phụ nữ 46%; Hội nông dân 40,5%; Hội cựu chiến binh 51,55%. Số hoạt động yếu kém của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp cơ sở chiếm từ 10%-20% ở các tỉnh của Tây Nguyên.
 
 Đội ngũ cán bộ cấp xã, phường, thị trấn đã và đang được quan tâm phát triển về số lượng, chất lượng, cơ cấu. Toàn vùng Tây Nguyên có 12.848 cán bộ xã, phường, thị trấn hưởng sinh hoạt phí. Trong đó cán bộ cấp xã ở Tây Nguyên có 8.865 người gồm: 3.170 cán bộ chủ chốt của tổ chức đảng, chính quyền; 3.000 cán bộ là chủ tịch Mặt trận và trưởng các tổ chức đoàn thể nhân dân; 2.261 thuộc các chức danh chuyên môn cấp xã (tư pháp, địa chính, văn hóa - thông tin...) và 1.346 cán bộ các chức danh khác.
 
  Ngoài ra ở mỗi xã còn bố trí thêm 5 cán bộ cấp phó của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng với tổng số là 3.025 người. Một số xã thuộc địa bàn xung yếu, vùng biên giới còn bố trí thêm phó trưởng công an, phó xã đội trưởng.
 
 Cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã của các tỉnh Tây Nguyên là 3.992 người (chiếm 31,07% tổng số cán bộ cấp xã), trong đó cán bộ nữ là 1.086 người (8,45%). Số cán bộ thôn, buôn (trưởng thôn, trưởng buôn...) là 6.618 người.
 
 Tổng số đảng viên đang công tác và sinh hoạt tại xã, phường, thôn, buôn là 45.762 người (chiếm 55,3% số đảng viên toàn vùng).
 Cơ cấu độ tuổi của cán bộ cấp xã như sau: tuổi dưới 30 chiếm 13%; từ 30-34 chiếm 12%; từ 35-39 là 17%; từ 40-44 là 20%; 45-49 là 18%; 50-54 là 9%; trên 54 là 10%.
 
 Từ năm 2003 đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đã chú ý tăng cường, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ cơ sở. Đã luân chuyển 53 cán bộ ở các cơ quan cấp tỉnh, 218 cán bộ cấp huyện về các cơ sở giữ những chức vụ Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Đã đào tạo, bồi dưỡng 758 người về lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ từ sơ cấp trở lên. Trong đó trình độ trung cấp lý luận chính trị có 258 người (chiếm tỷ lệ 7,6%). Ngoài ra, ở một số tỉnh còn tổ chức học tiếng đồng bào dân tộc thiểu số bản địa cho cán bộ.
 
 Tổ chức, bộ máy, cán bộ và hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong 5 năm qua đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới hiện nay thì hệ thống chính trị cấp cơ sở của các tỉnh Tây Nguyên còn nhiều hạn chế, yếu kém. Đến nay, vẫn còn tới 1.360 thôn, buôn chưa có chi bộ Đảng; 833 thôn, buôn chưa có đảng viên (trong tổng số 5.945 thôn, buôn toàn vùng). Có một số xã từ sau ngày giải phóng đến nay chưa phát triển được đảng viên nào là người dân tộc thiểu số. ở một số nơi, tổ chức cơ sở đảng chưa thể hiện rõ vai trò là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở. Việc xếp loại tổ chức cơ sở đảng đạt loại trong sạch và vững mạnh là quá cao, chưa sát với thực tế (với 68%).
 
 Về trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở hiện nay còn rất thấp: trình độ tiểu học chiếm từ 6,6-13%; trung học cơ sở từ 35-41%; trung học phổ thông 44-58%. ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, cán bộ ở cơ sở có trình độ trung học phổ thông chỉ chiếm từ 15-18%. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn thấp: trình độ sơ cấp từ 3%-8%; trung cấp từ 15%-17%; cao đẳng, đại học 3%-5%; trung cấp quản lý nhà nước 6%-11%; trình độ tin học sơ cấp đạt khoảng 2,4%. Trình độ lý luận chính trị: sơ cấp 9%-22%; trung cấp từ 25%-34%; cao cấp và cử nhân chính trị chỉ đạt khoảng 1%. ở một số địa phương thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi khác ngoài Tây Nguyên cũng có trình độ tương tự về trình độ học vấn, đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ ở cơ sở. Chẳng hạn, tỉnh Bắc Giang hiện có tới 60% cán bộ ở xã, thôn, bản không đạt chuẩn; 38% chưa qua bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước; rất ít người biết sử dụng công nghệ thông tin trong công việc; có tới 50% số trưởng thôn không phải là đảng viên. ở tỉnh Trà Vinh, số liệu điều tra cũng cho thấy trong tổng số cán bộ của 102 xã, phường, thị trấn có gần 100 người chỉ có trình độ văn hóa bậc tiểu học. Đây là tỉnh có gần 1/3 dân số là đồng bào các dân tộc thiểu số với số lượng lớn là người Khmer.
 
 Hạn chế khá rõ nét trong phương thức hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Tây Nguyên qua điều tra, khảo sát cho thấy:
 Nhận thức và thực hiện chức năng của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở còn ở mức chung chung, chưa cụ thể, thiết thực. Một số tổ chức cơ sở đảng (đảng bộ, chi bộ) chất lượng, nội dung của các nghị quyết chưa cao. Các nghị quyết chưa phát huy được vai trò là công cụ, phương tiện quan trọng để lãnh đạo của tổ chức đảng. Việc lãnh đạo của tổ chức đảng đối với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng chủ yếu theo kinh nghiệm và uy tín của người Bí thư Đảng bộ, Chi bộ. Chức năng quản lý của chính quyền chủ yếu thông qua vai trò của Uỷ ban nhân dân. Vai trò của Hội đồng nhân dân nói chung, của các đại biểu Hội đồng nhân dân nói riêng chưa rõ nét trong chương trình hoạt động và trong nội dung các kỳ họp của Hội đồng nhân dân. ở những địa bàn thuộc Tây Nguyên qua khảo sát (thời điểm năm 2006) chưa có quy chế làm việc giữa Bí thư Đảng uỷ với Chủ tich Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và những người đứng đầu các tổ chức đoàn thể nhân dân (Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên...). Quan hệ hoạt động giữa các tổ chức này chỉ được nhận thức một cách khái quát là Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, đoàn thể phát huy vai trò làm chủ của nhân dân mà chưa được cụ thể hóa trong quy chế làm việc hoặc những quy định về quan hệ công tác giữa các thành viên đã nêu trong hệ thống chính trị cấp cơ sở. Bên cạnh đó, kỹ năng soạn thảo văn bản của cán bộ thuộc hệ thống chính trị cấp cơ sở ở những địa bàn khảo sát còn rất hạn chế (nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số). Việc xử lý các tình huống đột xuất ở nhiều nơi còn rất lúng túng. Ngoài ra, ở một số nơi, cấp ủy Đảng và chính quyền chưa quan tâm cụ thể, thiết thực tới cơ sở vật chất, điều kiện hoạt động của các Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Tại nhiều cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hoặc hoạt động cầm chừng, hoặc tồn tại hình thức. Tình hình tôn giáo phát triển không bình thường, vẫn tiếp tục diễn ra ở một số địa bàn kèm theo việc lôi cuốn, tranh giành quần chúng giữa các tổ chức tôn giáo. Mối quan hệ giữa dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo chưa được giải quyết một cách khoa học và thực tiễn ở nhiều cơ sở.
 
 Những hạn chế, yếu kém trong hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Tây Nguyên có nhiều nguyên nhân, trong đó những nguyên nhân chủ quan sau đây là trực tiếp nhất:
 
 Thứ nhất: trình độ nhận thức, năng lực quản lý, điều hành của một số cán bộ chủ chốt cấp cơ sở còn hạn chế, do thiếu đào tạo cơ bản, thiếu bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về chuyên môn.
 
 Thứ hai: sự quan tâm chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên chưa kịp thời, chưa thường xuyên (tại một số địa phương đã nêu ra phương châm “tỉnh nắm xã, huyện nắm thôn, xã nắm hộ dân” nhưng rất tiếc phương châm này chưa được thực hiện một cách đồng bộ và thường xuyên). ở nhiều cơ sở còn thiếu việc hướng dẫn, xây dựng và thực hiện các quy chế và quy định nhằm cụ thể hóa mối quan hệ giữa tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân.
 
 Thứ ba: cơ cấu tổ chức, cán bộ ở nhiều cơ sở vẫn còn những bất cập chưa được giải quyết: cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là dân tộc thiểu số bản địa thường tập trung khá lớn ở các lĩnh vực công tác dân vận hoặc công tác đảng. Số ít cán bộ dân tộc thiểu số tham gia quản lý, điều hành hoặc các công tác chuyên môn (quản lý kinh tế, tư pháp, địa chính, kế toán...).
 
 Thứ tư: quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tạo nguồn cán bộ chưa được quan tâm đúng mức ở khá nhiều địa phương, cơ sở. Chưa kết hợp giữa các khâu: tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đào tạo lại cán bộ cho cơ sở.
 
 Thứ năm: chế độ tiền lương, phụ cấp, đãi ngộ chưa thỏa đáng, chưa phù hợp đối với cán bộ, công chức ở cơ sở. Nhiều bất hợp lý trong ngạch lương, thang lương của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở chưa được giải quyết.
 
 Qua thực trạng của đội ngũ cán bộ và tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Tây Nguyên nói riêng, ở các vùng dân tộc thiểu số nước ta nói chung, cho thấy việc đổi mới hệ thống chính trị, củng cố và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở các vùng dân tộc thiểu số vẫn đang là yêu cầu, đòi hỏi bức xúc hiện nay.
 
 Để góp phần giải quyết đúng vấn đề dân tộc, thực hiện tốt công tác dân tộc, các cấp, các ngành, các địa phương phải quan tâm thiết thực hơn nữa đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
 
 Các địa bàn, địa phương trong tổ chức sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc cần kết hợp đánh giá kết quả, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở xã, phường, thị trấn. Song song với quá trình đó là việc triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.
 
 Một mặt, phải quán triệt đầy đủ, sâu sắc những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ chung mà Nghị quyết Trung ương sáu (khóa X) đã nêu, mặt khác, phải căn cứ vào đặc điểm tình hình cụ thể về dân cư, tộc người mà vận dụng các giải pháp thích hợp nhằm phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị của tổ chức cơ sở đảng, tạo ra sự chuyển biến, đổi mới thật sự về nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta hiện nay.

PGS, TS Nguyễn Quốc Phẩm
Viện trưởng Viện CNXHKH

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,859,857


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs