Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/09/2008
Kết quả và những vấn đề đặt ra trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về công tác dân tộc ở Tây Nguyên


Hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc ngô cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai.

Kể từ khi Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ra Nghị quyết chuyên đề số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc, Tây Nguyên đang có một số việc đáng mừng là vì hiện nay, kinh tế Tây Nguyên phát triển theo chiều hướng tích cực, tổng sản phầm (GDP) tăng 15,8% so với năm 2006.

Giải quyết việc làm cho 96.000 lao động, trong đó có 15.500 lao động người dân tộc có việc làm mới trong doanh nghiệp cao su và cà phê. Có hơn 4.440 hộ dân tộc được nhận 30.705 ha đất rừng để sản xuất và nhận khoán 37.220 ha rừng để bảo vệ chăm sóc, độ che phủ của rừng còn giữ được 56,2%. Giải quyết cho 3.069 hộ dân tộc có thêm 1.634 ha đất sản xuất, 3.860 hộ có đất ở, làm mới và sửa chữa 25.074 nhà ở, cấp được nước sinh hoạt cho 24.640 hộ. Qua đó, đời sống của đồng bào các dân tộc từng bước được cải thiện và nâng cao hơn trước. Tỷ lệ hộ đói nghèo vùng Tây Nguyên còn 18,9%, giảm 3,95% so với năm 2006. Có khoảng 1/4 số xã thuộc Chương trình 135 thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn.
 
 Bản sắc văn hoá dân tộc Tây Nguyên được duy trì và phát huy. Di sản “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên” được tổ chức UNESCO công nhận; có 8/12 tiếng dân tộc Gia rai, Ê-đê, Ba-na, Xơ-đăng, Mnông, Giẻ-Triêng, Chu-ru) được phát trên sóng đài phát thanh, truyền hình của Trung ương, địa phương và mở được các trường dạy nghề cho thanh niên dân tộc học.
 
 Công tác phát triển Đảng được coi trọng, các dân tộc bản địa đều có đảng viên, hai dân tộc có số dân ít nhất ở Tây Nguyên là Brâu và Rơmăm thì nay đều có đảng viên, làm cán bộ ở thôn và xã. Đến cuối tháng 11/2007, Tây Nguyên đã xoá thêm được 205 thôn, buôn “trắng” đảng viên. Kết nạp 7.500 đảng viên mới, trong đó có 20,63% là người dân tộc và 5,23% là người có đạo, do đó thực hiện được chủ trương tỉnh nắm xã, huyện nắm buôn, xã nắm hộ; các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị kết nghĩa hầu hết các buôn đồng bào dân tộc để nắm dân, xóa đói nghèo, giữ an ninh.
 
 Sau Đại hội đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên tại Gia Lai tháng 3/2006, tăng cường được đoàn kết và giúp nhau giữa các dân tộc chống được tư tưởng chia rẽ dân tộc, đòi tự trị và ly khai của địch. Việc có ấn tượng nhất là Thư của Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam ở Pleiku ngày 19/4/1946 được in bằng tiếng dân tộc, trao đến từng hộ dân để hàng ngày học và làm theo lời Bác. ở thị xã Kon Tum có khoảng 100 thôn, cứ sáng thứ 2 hàng tuần, trưởng thôn tổ chức cho dân chào cờ Tổ quốc và nhắc nhau công việc trong tuấn. Nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã nhận rõ âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, kiên quyết chống lại âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên.
 
 Có được kết quả như vậy là do việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về công tác dân tộc được tiến hành theo hướng dẫn của Trung ương, phổ biến Nghị quyết đến cơ sở và có chương trình hành động. Các cấp và các ngành, đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên đã nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu nước và cách mạng, có nhiều cố gắng thực hiện Nghị quyết, bước đầu cơ bản là ổn định được chính trị-xã hội, Tây Nguyên đang đổi mới và phát triển.
 
 Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng mừng nói trên, điều đáng lo là, Tây Nguyên vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, thu ngân sách tại chỗ mới đáp ứng khoảng 40% nhu cầu chi. Đồng bào dân tộc tại chỗ số đông vẫn còn nghèo, chưa lo định canh định cư xong thì nay vẫn có nhiều dân di cư tự do tự nơi khác đến, gây ra tranh chấp đất và phá rừng, trong khi nguồn quỹ đất rừng nay đã hết cũng không có đủ vốn để ổn định dân cư. Theo thống kê, hiện còn 13.160 (51,6%) hộ chiếu đất sản xuất, 4.746 (37,3%) hộ thiếu đất ở, thiếu cả nước sản xuất và sinh hoạt. Trong khi đó, công tác xoá đói giảm nghèo ở Tây Nguyên chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn cao. Có nhiều nguyên nhân nghèo đói, nhất là nguyên nhân chủ quan do đồng bào thiếu ý chí xóa nghèo “chưa tự cứu mình trước khi trời cứu”. Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực I là 12,8%, khu vực II là 30,3%, khu vực III là 58,5%; số hộ nghèo trong dân tộc thiểu số còn cao tới 58,3%, hộ nghèo dân tộc thiểu số so với tổng số hộ nghèo của tỉnh Kon Tum chiếm 88,5%, Gia Lai 83%, Đắk Lắk 52,35%. Dân tộc có đời sống khó khăn hơn là Brâu, Rơmăm, Xơ đăng, Giẻ-Triêng, Mnông, Ba-na,...
 Xã hội Tây Nguyên đang có sự phân hóa và khoảng cách chênh lệch nhiều mặt giữa thành thị và nông thôn - nhất là ở vùng sâu và xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng biên giới. Các tệ nạn xã hội cũng gia tăng, nạn mê tín và các hủ tục lạc hậu tiếp tục làm cho đời sống của bà con ở một số nơi gặp nhiều khó khăn về kinh tế và văn hoá. Tổ chức UNESCO mới công nhận di sản “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên” thì ở xã labăng huyện Đắk Đoa có 6/8 thôn không còn cồng chiêng, vì đồng bào dân tộc theo đạo Tin Lành chỉ hát thánh ca, không ai múa và học đánh cồng chiêng nữa, bản sắc văn hoá Tây Nguyên đang bị mai một.
 
 Tây Nguyên có 32,61% số dân là dân tộc, đảng viên là người dân tộc mới chiếm 16,72%, hiện nay còn 316 thôn buôn chưa có đảng viên. Tỉnh Đăk Lăk có hơn 30% số dân là người dân tộc thiểu số thì trong đó cán bộ dân tộc có 3.439 người (11,23%). Số cán bộ dân tộc tỉnh Kon Tum chiếm 52%, riêng cán bộ dân tộc cấp tỉnh có 27 người (6,65%), cấp huyện có 148 người (25,78%). Tỉnh Gia Lai cán bộ dân tộc ở cấp tỉnh có 408 người (7,04%), cấp huyện có 2.463 người (15,33%)...
 
 Nhìn chung, việc phát triển đảng, đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc tuy đã chú trọng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, có đại diện từng dân tộc nhưng số lượng và chất lượng chưa tương xứng; còn nhiều bất cập trong công tác phát triển đảng, cử tuyển con em đồng bào dân tộc thiểu số đi đào tạo, học nội trú, kể cả tuyển dụng sau khi tốt nghiệp, sử dựng và phát huy cán bộ dân tộc.
 
 Qua khảo sát, đánh giá ở cấp cơ sở vẫn còn nhiều yếu kém, nhất là công tác chính trị, tư tưởng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị. Theo đánh giá của Tỉnh uỷ Kon Tum cho thấy “Hệ thống chính trị ở cơ sở còn bộc lộ nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới. Một số cấp ủy cơ sở chưa thể hiện rõ vai trò lãnh đạo; vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, điều hành của Uỷ ban nhân dân chưa được phát huy; nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận - đoàn thể chậm đổi mới. Một số cán bộ còn biểu hiện thiểu trách nhiệm, chưa gương mẫu, phong cách làm việc chưa khoa học…”.
 
 Tình hình an ninh chính trị ở Tây Nguyên vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp. Các thế lực thù địch chưa từ bỏ âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc, đòi tự trị, rồi ly khai, lập “nhà nước Đề ga” ở Tây Nguyên, âm mưu câu móc, lôi kéo một số thanh niên dân tộc nhẹ dạ cả tin vượt biên gây phức tạp về an ninh ở nông thôn. Chúng còn âm mưu lợi dụng đồng bào dân tộc trong việc tranh chấp đất rừng, giải tỏa để bù, khiếu kiện kéo dài, gây nội bộ bất hòa,... tạo ra các điểm bất ổn ở thôn buôn nhằm phân tán lực lượng ta.
 
 Trong những năm qua, lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch và bọn người xấu ở Tây Nguyên đã lợi dựng đạo Tin Lành để xen vào nắm chức sắc, lôi kéo quần chúng và tuyên truyền cái gọi là “người dân tộc Tây Nguyên phải có hội thánh riêng”, “Tin lành Đề ga” được hoạt động bình thường như các tôn giáo khác.
 
 Với sự cố gắng của mình, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã làm nhiều việc để tập hợp và đoàn kết đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Tuy nhiên xung quanh công tác chính trị, tư tưởng vẫn còn nhiều việc phải làm, đặc biệt để chiếm được lòng tin trong đồng bào các dân tộc thiểu số, trong khi kẻ địch thì luôn chia rẽ, tranh giành, lôi kéo đồng bào các dân tộc của ta. Đáng lưu ý là lực lượng thanh niên ở Tây Nguyên hiện nay, chiếm 26% số dân, trong đó thanh niên dân tộc chiếm 34%, song việc tập hợp thanh niên vào Đoàn và Hội mới đạt 39,4%. Một bộ phận thanh niên các dân tộc Tây Nguyên sinh trưởng sau ngày giải phóng do chưa qua rèn luyện trong đấu tranh cách mạng, công tác chính trị tư tưởng của Đoàn, của Hội còn chưa sâu sát, nên số này ý thức chính trị kém, không chịu khó làm ăn lương thiện, chạy theo lối sống tiêu cực, tham lợi kinh tế và rất dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng về chính trị.
 
 Những tồn tại và đáng lo đó có cả nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu là do chủ quan của ta. Mặc dù Nghị quyết về công tác dân tộc đã ban hành được hơn 5 năm nhưng nhiều người dân vẫn không biết, không nhớ nội dung Nghị quyết.
 
 Đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng đòi hỏi phải quán triệt và thực hiện tốt hơn nữa Nghị quyết 7 về công tác dân tộc của Đảng đối với Tây Nguyên. Cụ thể, cần nhanh chóng giải quyết dân di cư tự do và du canh du cư nhằm phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội ở Tây Nguyên. Bên cạnh việc thực hiện tốt Chương trình 135, chương trình hỗ trợ để đồng bào dân tộc sinh hoạt cộng đồng như xây nhà văn hoá, đầu tư trang thiết bị nghe nhìn và các loại sách, báo cần quan tâm công tác giáo dục con em dân tộc và cán bộ dân tộc. Hiện nay, đồng bào và thanh niên dân tộc vẫn thiếu kiến thức và không có tay nghề đề tìm việc làm và chuyển hướng sản xuất kinh doanh. Do đó cơ quan dân tộc các cấp phải có quy hoạch và kế hoạch về giáo dục với từng dân tộc, quản lý học sinh người dân tộc cả đầu vào và đầu ra. Tăng cường mở các trường lớp, hỗ trợ kinh phí để dạy và học nghề, học khuyến nông khuyến lâm, chuyển giao công nghệ kỹ thuật cho thanh niên và đồng bào các dân tộc là việc làm cấp thiết, phù hợp với đồng bào dân tộc. Việc cấn làm ngay là đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng cho sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết này, kịp thời điều chỉnh và bổ sung chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tiễn, tạo thống nhất ý chí và hành động thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Lù Văn Que

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,860,039


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs