Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 10/09/2008
Dựng nước đi đôi với giữ nước kế sách nhất quán quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam


Việt Nam là một quốc gia hình thành từ rất sớm và có lịch sử phát triển lâu đời, có vị trí địa chính trị chiến lược quan trọng, đứng giữa vòng cung nhìn ra Thái Bình Dương, cầu nối Đông Bắc á và Đông Nam á, là nơi giao lưu và hội tụ của nhiều nền văn hoá, nên thường bị ngoại bang “dòm ngó”, xâm lược.

Từ thế kỷ XVIII trở về trước, kẻ xâm lược có quân đông, nhiều âm mưu thâm hiểm, song nhân dân Việt Nam đã khơi dậy được truyền thống từ cội nguồn dân tộc, huy động được sức mạnh toàn dân và trí tuệ các bậc hiền tài, nên đã đánh bại các thế lực thù địch, hiếu chiến xâm lược, xây dựng nên nền nghệ thuật đánh giặc độc đáo: “ít địch được nhiều”, “nhỏ thắng được lớn” và dựng nước đi đôi với giữ nước là kế sách, là qui luật tồn tại và phát triển của dân tộc.
 
 Có thể nói, từ rất sớm, cha, ông la đã nhận thức được mối quan hệ biện chứng, gắn bó giữa dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Đó chính là tư tưởng “quốc phú, binh cường”, “cử quốc nghênh địch”, “thái bình nên gắng sức, non sông vững ngàn thu”... Ngay từ thời kì Văn Lang, khi bắt đầu đặt nền móng xây dựng một quốc gia độc lập Tổ tiên ta đã có ý thức phải giữ gìn lấy quốc gia ấy. Thục Phán An Dương Vương vừa động viên trăm họ phát triển cây lúa nước, đồng thời lại vừa huy động toàn dân đắp thành Cổ Loa, sửa sang giáo mác, rèn đúc tên đồng để sẵn sàng bảo vệ đất nước. Trong những năm dài Bắc thuộc, ý chí đánh giặc cứu nước và giữ nước chẳng những không bị tàn lụi mà trái lại, nó đã ngày càng phát triển cao hơn.
 
 Bước vào thời kì Đại Việt, khi nền độc lập nước nhà được khôi phục và củng cố, tư tưởng “dựng nước đi đôi với giữ nước” đã phát triển lên một bước mới tạo thành nền tảng bền vững làm phong phú thêm chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Vào thời nhà Lý, “thế nước”, “thế lực” của nước Đại Việt đã khá vững mạnh. Công cuộc “kiến quốc” và “thủ quốc” không ngừng được tăng cường.
 
  Nhờ đó nhà Lý tạo nên thế vững, lực mạnh và đã thực hiện được chiến lược “Tiên phát chế nhân”, phá tan âm mưu câu kết quân sự Tống - Chăm, đánh bại chiến tranh xâm lược của quân Tống trong thời gian tương đối ngắn.
 
 Nhà Trần sau hơn 30 năm xây dựng (1226-1257), nhờ có chính sách đúng đắn trên cơ sở một nền văn hoá quân sự độc đáo của dân tộc và nỗ lực của toàn dân, nên lực nước được tăng cường thêm sức mạnh, thế nước được phát triển thêm vững chắc. Đó là điều kiện cơ bản để dân tộc ta ba lần đại thắng quân Nguyên-Mông xâm lược. Trần Quốc Tuấn, Vị tướng quốc lừng danh, nhà quân sự kiệt xuất đã khẳng định kế sách giữ nước là: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.
 
 Thời nhà Lê, sau những chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang lừng lẫy, nước Đại Việt bước vào thời kì xây dựng mới. Những tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Trái đã giúp triều Lê dựng nên Nhà nước phong kiến Đại Việt hưng thịnh nhất trong lịch sử dân tộc ta thời trung đại. Song ngay khi đất nước hưng thịnh, vua Lê Thái Tổ đã nhắc nhở cháu con: “Lo giữ nước ngay từ lúc nước chưa nguy”. Khi đi kiểm tra đất Hoà Bình (vùng chợ Bờ), Lê Thái Tổ đã cho khắc vào bia đá: “Biên phòng cần có phương lược tốt/ Giữ nước nên có kế dài lâu”.
 
 Lời của vua Lê Thái Tổ như một phương hướng chiến lược giữ nước lâu bền, nhắc nhủ muôn đời cho các thế hệ con cháu mai sau. Kế thừa những kinh nghiệm truyền thống lịch sử và căn cứ vào điều kiện thực tiễn của thời đại mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định: “Dựng nước đi đôi với giữ nước” là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam.
 
 Trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã kịp thời đề ra chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”. Thực hiện chủ trương ấy, chúng ta đã ra sức xây dựng căn cứ địa cách mạng Việt Bắc, xây dựng các khu du kích ở vùng tạm chiếm, xây dựng vùng tự do ở khu IV, khu V, đồng bằng Nam Bộ… làm căn cứ cung cấp sức người sức của cho kháng chiến lâu dài và phát triển chiến tranh nhân dân, đưa cuộc kháng chiến tiến đến thắng lợi. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi đồng thời hai chiến lược cách mạng: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và ra sức đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.
 
 Bước vào thời kì cách mạng mới, kế thừa truyền thống lịch sử của dân tộc và phát triển sáng tạo qui luật “dựng nước đi đôi mới giữ nước”, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán lãnh đạo quân dân cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tố quốc xã hội chủ nghĩa.
 
 Để phát huy sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã nhất quán thực hiện kế sách: Đoàn kết bên trong, hoà hiếu bên ngoài. Kế sách này đã được tiến hành một cách sáng tạo trong từng thời kì lịch sử.
 
 Nội dung đoàn kết bên trong được thực hiện rất phong phú và độc đáo. Trong thời chiến, ý chí đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân, tinh thần “tướng sĩ đồng lòng” càng phải gắn bó. Nhà Trần đã tổ chức hội nghị Diên Hồng và hội nghị Bình Than để truyền quyết tâm đánh quân Nguyên Mông cho toàn dân. Từ hai hội nghị ấy, “sát thát” trở thành ý chí của toàn dân. Thời nhà Lê, những người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh đã “hoà rượu với nước”, uống cùng nhân dân… Kế thừa truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hoá của dân tộc ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết bên trong, luôn thực hiện quân dân một ý chí, toàn quân một ý chí. Trong chiến tranh giải phóng cũng như trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, quân và dân ta đã biến lời dạy của Bác Hồ “Đoàn kết là sức mạnh vô địch” thành hành động cụ thể tạo nên sức mạnh diệu kỳ, lập nên những chiến thắng vang dội. Cùng với chiến lược hoà hiếu bên ngoài, cha ông ta đã luôn khéo léo kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự, nhằm giữ được mối hoà hiếu bang giao, vừa giữ nguyên bờ cõi, nhiều thời kỳ đã ngăn chặn, đẩy lùi được nguy cơ chiến tranh và đặc biệt là để kết thúc chiến tranh ở thế có lợi nhất cho dân tộc.
 
 Những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp khó lường, đan xen giữa ổn định và mất ổn định. Mâu thuẫn về lợi ích quốc gia, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; các mâu thuẫn của thời đại vẫn tồn tại và có những biểu hiện mới về nội dung và hình thức. Đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp diễn ra trong một hình thái mới, vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Các dân tộc trên thế giới ngày càng ý thức được chủ quyền và vận mệnh của mình, song làn sóng toàn cầu hoá đang phơi bày cái được, cái mất của từng nước, tùy theo sự tinh khôn, tài trí của người lãnh đạo. Những năm đổi mới, Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm đến chính sách đối ngoại đúng đắn, mở rộng quan hệ đối ngoại, thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ với tất cả các nước trên thế giới. Chính sách đối ngoại nhằm khai thác tốt nhất các nhân tố quốc tế và từng nước để bảo đảm giữ vững quốc phòng, an ninh, góp phần phát triển đất nước; đồng thời thông qua hoại động quốc tế để nâng cao vị trí của nước ta trên trường quốc tế, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới.
 
 Từ những kinh nghiệm lịch sử trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước cho chúng ta thấy, tuy nước ta đã hoàn toàn độc lập nhưng việc củng cố và bảo vệ nền độc lập của nước ta vẫn là một nhiều vụ chiến lược. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mới bảo vệ được vững chắc độc lập dân tộc và có giữ vững độc lập dân tộc mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh: dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển. Ngày nay chúng ta đặt nhiệm vụ xây dựng đất nước lên hàng đầu, nhưng không bao giờ mất cảnh giác, chệch phương hướng, tách rời bảo vệ độc lập dân tộc với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tách rời dựng nước với giữ nước trên tất cả các mặt chính trị ngoại giao, kinh tế, văn hoá, thương mại tài chính, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
 
 Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tất yếu, khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta trong suốt tiến trình lịch sử. Ngày nay, trong giai đoạn cách mạng mới, sự vận đông, phát triển của quy luật này, có những nội dung mới, đa dạng và phức tạp hơn. Do vậy, mỗi chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa vấn đề này nhằm giúp cho Đảng và Nhà nước ta định ra những chủ trương, đường lối đúng đắn, sáng tạo để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đối với đất nước ta, nhân dân ta, nhằm chuẩn bị tốt hành trang giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vững bước tiến lên trong thời kỳ mới.

TS Trần Nam Chuân
Viện Chiến lược quân sự (BQP)
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,859,958


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs