Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/03/2005
Văn hoá truyền thống Khmer Nam Bộ


Phụ nữ LôLô. ảnh: Bình Minh

Nguyễn Nhân Thống

Dân tộc Khmer hiện có 1,5 triệu người sinh sống lâu đời ở đồng bằng sông Cửu Long, đông nhất là ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang và An Giang, là dân tộc thiểu số đông nhất ở nước ta hiện nay. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng thuộc ngữ hệ Môn-Khmer. Trong suốt quá trình cộng cư, giao lưu văn hoá với các dân tộc khác, người Khmer luôn có ý thức giữ gìn nền văn hoá truyền thống của mình, đồng thời đóng góp những nét đặc sắc văn hoá Khmer vào diện mạo văn hoá chung cả nước. Người Khmer sống xen kẽ với người Kinh, người Hoa, người Chăm trong các phum sóc. Nhà ở của người Khmer làm khá đơn giản, mái lợp lá dừa nước theo kiểu mài dài phía sau. Khi làm nhà, người Khmer thường dùng con số lẻ như chiều cao 5m, 7m, còn cửa thì luôn mở về hướng đông. Người Khmer có ba hình thức tôn giáo: tín ngưỡng dân gian, đạo Bà La Môn và đạo Phật theo phái Tiểu thừa. Người Khmer rất sùng kính đạo Phật, bởi vậy mà hiện nay có gần 500 ngôi chùa lớn nhỏ. Chùa Khmer về đại thể, đều tuân thủ một quy cách bố cục và kiến trúc đồng nhất. Chính điện là trung tâm khuôn viên của chùa, trải ra theo hướng đông- tây với mái cong, nóc nhọn, với đại bàng thân người đỡ mái… Nói chung thì thế, nhưng chi tiết trang trí mỗi chùa mỗi vẻ. Mặt khác, trang trí còn tuỳ thuộc vào thị hiếu thẩm mỹ của từng vị sư sãi. Chùa to hay nhỏ, giàu hay nghèo, cứ nhìn vào đó sẽ thấy được mức sống của nhân dân trong khu vực. Chùa là trung tâm hoạt động văn hoá xã hội, là tâm điểm gắn bó cộng đồng và là nơi thực hiện các lễ nghi tôn giáo, là nơi sinh hoạt văn hoá, văn nghệ của đồng bào Khmer. Ngoài ra, chùa Khmer còn là nơi tồn trữ và phổ biến những kinh điển giáo lý, sách báo và tác phẩm văn học, nghệ thuật Khmer. Nơi đây thường có trường dạy giáo lý và Phạn ngũ cho các sư sãi và trường dạy tiếng Khmer cho con em trong phạm vi ảnh hưởng của chùa. Nét đặc sắc văn hoá dân tộc Khmer còn được thể hiện qua phong tục, tập quán, lễ nghi, cách ăn mặc, ngôn ngữ… đặc biệt là nghệ thuật âm nhạc truyền thống với nhiều loại hình và hình thức biểu diễn những làn điệu dân ca trữ tình sâu lắng, thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, tình yêu lao động. Hàng chục nhạc cụ khác nhau của dàn nhạc lễ và dàn nhạc dân gian, có thể dùng để độc tấu và người Khmer còn dùng một số nhạc cụ hình thành qua sự giao lưu văn hoá với các dân tộc anh em như dàn nhạc ngũ âm (Phlêng pipeat), sáo trúc (Khloy), trống cổ bồng bịt da trăn (Skor Phlêng), đàn bán nguyệt (Khưm), đàn nhị (Trô Rôba)… Còn diễn xướng dân gian gồm các điệu múa Rôbăm, Lamiêu, Xaravan, múa Aday, múa trống Xayăm. Các loại sân khấu dân gian như ca kịch Dùkê, Lòkhon, Rôbăm… Ngoài ra, người Khmer còn có một nền kỹ thuật (điêu khắc, kiến trúc, hội hoạ) rất độc đáo, mang đậm màu sắc tôn giáo mà thể hiện rõ nhất qua cách trang trí và kiến trúc ở những ngôi chùa. Lễ tết của người Khmer hầu hết mang tính cộng đồng và sắc thái văn hoá vùng duyên hải và sông rạch. Các ngày lễ lớn trong năm có Tết Chol Chnăm Thmây (Tết đón năm mới), lễ Đôn Ta (lễ cúng ông bà), lễ Ok Om Bok (lễ cúng trăng), lễ đua ghe ngo… Lễ hội Chol Chnăm Thmây là lễ tết lớn nhất của người Khmer Nam Bộ được tổ chức vào các ngày 12 đến 14 tháng 4 dương lịch tại chùa và các gia đình. Lễ hội có ý nghĩa tiễn mùa nắng hạn bước sang thời kỳ có mưa để làm mùa. Lễ hội Đôn Ta thường được tổ chức vào trung tuần hay thượng tuần tháng 5 Âm lịch (từng địa phương có tổ chức các ngày khác nhau). Trong ngày lễ, hoa quả, bánh tét và cơm canh được mang đến chùa làm lễ, sau đó tổ chức ăn uống ở gia đình. Lễ hội Ok Om Bok là lễ cúng trăng, được tổ chức vào ngày 15 tháng 10 Âm lịch để tạ ơn thần Mặt Trăng đã cho mùa màng tươi tốt, sông sạch nhiều tôm cá, nhà nhà no đủ. Trong lễ Ok Om Bok có tổ chức đua ghe ngo rất hào hứng, vui vẻ trên sông nước thu hút đông đảo người các tỉnh về dự. Nói chung, nền văn hoá Khmer Nam Bộ có từ lâu đời, thật đa dạng và đặc sắc đã đóng góp một phần không nhỏ vào kho tàng văn hoá dân tộc suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,468,368


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs