Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Thơ dân tộc thiểu số về đâu?

 08/08/2004

Hiếm thấy một tập thơ viết bằng ngôn ngữ DTTS trong gian sách của Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc.

Trong các bản làng dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam suốt từ Bắc vào Nam vẫn thường diễn ra những đêm lễ hội, có nhảy múa, hát ca và cả... thơ nữa. Thi sỹ đi tìm vùng đất mới lạ cho thơ, mải mê khai phá để rồi một lúc nào đó quay lại, giật mình: không ai sau lưng cả. Ngôn ngữ quần chúng mất hút! Tiếng nói của thi sỹ ít được cộng đồng đón nhận, rơi vào khoảng trống.

Khoảng trống ngôn ngữ khó lấp đầy

Một thực tế đang hiện hữu là thơ tiếng Thái, Mông, Ê Đê, Chăm.... đang rất lép vế so với người anh em Việt. Bởi dẫu sao, thơ tiếng Việt còn được sáng tác bởi lực lượng hùng hậu (trong đó có cả anh em DTTS). Còn Chăm, Ê Đê, Thái, Mông... thì hầu như vắng hoe. Không có người đọc, nhà thơ DTTS mất đi đáng kể chất kích thích sáng tác.

Hội Văn học Nghệ thuật các DTTS Việt Nam hiện có hàng trăm nhà thơ nhưng số thi sỹ viết được thơ bằng tiếng Việt lẫn tiếng mẹ đẻ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đại diện cho dân tộc Tày có cố nhà thơ Nông Quốc Chấn với 6 tập thơ tiếng Tày: “Việt Bắc đánh giặc”, “Dọn về làng”, Đi Berlin về”, “Tiếng lượn cần Việt Bắc”, “Cần Phja Bjoóc”, “Dám kha Pác Bó”. 1 tập thơ sáng tác bằng tiếng Việt được tác giả dịch ra tiếng Tày: “Mười điều kháng chiến”. “Làng thơ” Tày còn có nhà thơ Dương Thuấn sáng tác được 1 tập thơ tiếng Tày “Slíp nhi tua khoăn” và 1 tập song ngữ Việt- Tày “Con côi làm dâu”. Đại diện dân tộc Giáy có cố nhà thơ Lò Ngân Sủn với 1 tập thơ song ngữ Việt-Giáy “Đầu nguồn cuối nước”. Đại diện dân tộc Chăm có Inrasara với tập thơ song ngữ Việt-Chăm “Sinh nhật cây xương rồng”.

Có rất nhiều nhà thơ DTTS dù sáng tác được những tập thơ bằng ngôn ngữ tiếng Việt về đề tài dân tộc-miền núi rất ấn tượng, độc đáo, có bản sắc nhưng lại không có một tập thơ nào được viết bằng ngôn ngữ dân tộc mình, đó là Y Phương (dân tộc Tày), Hơ Vê (dân tộc Hrê), Pờ Sảo Mìn (dân tộc Pa Dí), Chu Thùy Liên (dân tộc Hà Nhì), Triệu Kim Văn (Dao), Lò Cao Nhum (Thái)....

Các nhà thơ DTTS Việt Nam dẫu tự nguyện sáng tác nhưng vẫn luôn viết trong tâm thế khá phức tạp: tình trạng lép vế của tiếng dân tộc và con số độc giả dân tộc mình quá khiêm tốn. Do vậy, dù yêu tiếng mẹ đẻ đến đâu, các nhà thơ luôn có khuynh hướng tự thể hiện mình trong không gian rộng lớn hơn: tiếng Việt.

Sự bắt chước cứng nhắc

Thực tê, trong chiều sâu tâm thức các văn nghệ sỹ DTTS ít nhiều vẫn mang mặc cảm tự ti, có gì đó chưa thật nhuần nhuyễn, chưa thật tinh tế như người Kinh nên mới cặm cụi học tập, nỗ lực vươn tới. Và rồi chính từ “nỗ lực” này đã lại sinh ra bắt chước, từ hình ảnh, cụm từ làm sẵn, ước lệ, lối ví von, ngắt câu... Hệ quả là chẳng những chúng ta không bằng người Kinh mà ngày càng xa rời chính giọng thơ của mình.

Đơn cử như trong tập thơ “Cây hai ngàn lá”, nhà thơ Pờ Sảo Mìn đã tìm tòi, khai phá để có những lối ví von vừa cụ thể, vừa chân chất tính dân tộc: “Dân tôi chỉ có hai ngàn người/ Như cái cây hai ngàn chiếc lá”. Thế nhưng, sang tập thơ “Con trai người Pa Dí”, Pờ Sảo Mìn lại viết: “Con trai người Pa Dí/ Đã đi là như chạy/ Như mây bay lửa cháy ầm ầm....”. Lối ví như thế đẫm ước lệ, sáo mòn không thể đánh giá là hay được. Hay như hình ảnh trong “Cây hai ngàn lá” có cái nét gì đó rất đặc trưng: “Tước vỏ cây thêu áo đẹp tháng năm” hoặc “Ngô lúa cười reo tận sân trời đó”. Sang tập thơ “Con trai người Pa Dí”, tác giả lại khái quát: “Dáng ngang tàng vẻ quẫy đạp trần gian” nghe rất chung chung, không nói lên được điều gì cả.

Tính chung chung này càng lộ rõ ở việc nhà thơ chúng ta đã vội vã khái quát: “Đã uống không biết say/Chỉ âm thầm quay cuồng trong gió bão”..... “Đã yêu là yêu nhiều yêu mãi/Đã lên yên không bao giờ ngã ngựa” – đây là tài sản chung của nhân loại chớ riêng gì một dân tộc nào đâu? Tập thơ “Con trai người Pa Dí”, tác giả Pờ Sảo Mìn sáng tác sau tập “Cây hai ngàn lá” nhưng những hình ảnh ví von, ý tưởng thể hiện trong tập thơ sau lại đuối hơn so với tập thơ trước.

Nghệ thuật thơ chủ yếu là nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Và nếu chúng ta thiếu ý thức sử dụng ngôn từ thì khó tránh rớt xuống vực thẳm đào sẵn. Thử lần theo bước nhà thơ Lương Định để tìm ra vực thẳm này. Đi vào thơ Lương Định, tôi có cảm giác như đi vào một bảo tàng chữ của 2 thế kỷ và vài thế hệ xen kẽ, không thứ lớp. Anh dẫn chúng tôi ngược về thế kỷ XIX với chí đời trai, lạc bước phong trần, nợ tang bồng, duyên trời xe, vụng tu thân chuốc lụy phiền, một kiếp nhân sinh...., bước sang “hiện vật” đầu thế kỷ XX với chót đa mang, bơ vơ đất khách, một trời mộng ước, lỡ một thời con gái, trăng nằm sõng soãi... đến tận gian hàng chữ của miền Nam những năm 1960 còn rớt lại: đời cay nghiệt, con sáo sổ lồng, phôi phai, hao gầy, cát bụi thời gian...

Bao nhiêu là hiện vật của một thế hệ đã chen chúc trong nhà trưng bày khiến người đọc cảm thấy bị lạc và ngợp trong căn nhà bé nhỏ. Có thể nói, Lương Định là nhà thơ DTTS cố ý làm thơ giống người Kinh nhất khi tuyên ngôn: “Cha không thích những bài thơ xưa cũ/ Nghe họa mi hót mãi cũng nhàm”.

Văn học Việt Nam được ví như một thân cây từ lâu đã cắm rễ trên nền đất phì nhiêu mà nếu chịu khó cày xới và chăm bón thì nó sẽ cho hoa quả ngọt ngào không thua kém bất kỳ nền văn học đất nước nào.

Nhưng mãi đến hôm nay, vài mảnh đất chưa được làm tơi xốp nên vẫn còn nhánh rễ còi cọc và đang có nguy cơ bị thui chột trong lớp đất đen. Thi sỹ DTTS có ý thức như thế nào về nguy cơ này?


Inrasara

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Ý nghĩa hoa văn trên váy áo của người Lào (08/2004)
  •  
  • Đội tuyển Tê-cuôn-đô Việt Nam tự tin đến Ô-lim-pích Bắc Kinh 2008 (08/2004)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 64,697,381


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs