Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 03/07/2008
Tri thức dân gian của người Thái về làm ruộng nước


Cọn nước.

Người Thái ở Việt Nam có 1.328.725 người, về dân số xếp thứ hai trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Địa bàn cư trú chủ yếu ở các thung lũng, dọc theo sông suối, nơi thuận lợi gieo trồng cây lúa nước.

Ngày nay, do nhiều nguyên nhân, người Thái đã sinh sống ở hầu khắp 64 tỉnh thành trong cả nước, nhưng tập trung và còn giữ được kết cấu bản mường truyền thống chỉ còn lại ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, miền tây Thanh Hoá, Nghệ An... trong đó vùng Tây Bắc được coi là “thủ phủ” của người Thái. Theo PGS.TS Lê Sỹ Giáo cho biết nét đặc trưng tạo nên bản sắc của văn hoá Thái đó là nước; đồng thời nước là mẫu số chung cho các dân tộc sinh sống ở vùng thung lũng có nghề gieo trồng lúa nước. Đây là đặc điểm cơ bản để nhận biết bản sắc văn hoá tộc người. Do gắn bó lâu đời với nghề lúa nước nên trong kho tàng tri thức dân gian (tri thức cộng đồng) Thái còn bảo lưu được nhiều kinh nghiệm liên quan đến nghề gieo trồng lúa nước cho đến ngày nay.
 
 Trong kho tàng tục ngữ, ca dao Thái có câu: “Xá kin pháy, Táy kin nậm “(nghĩa là: Người Xá (Khơ Mú) ăn theo lửa, người Thái ăn theo nước). Để “ăn theo nước”, người Thái phải chọn đất để làm ruộng nước. Do vậy đối với người Thái đất-nước là một chỉnh thể thống nhất trong quá trình mưu sinh mà ở đó vai trò của nước được đặt lên hàng đầu. Với người Thái nước không chỉ có vai trò quan trọng trong sản xuất và sinh hoạt mà còn là môi trường nuôi dưỡng văn hoá Thái. Hiện nay ở vùng Tây Bắc có gần 40 dân tộc cùng sinh sống nhưng chỉ có người Thái có lợi thế hơn cả trong việc làm ruộng nứơc. Không chỉ có vậy, người Thái còn vừa làm ruộng nước, vừa làm nương rẫy cho nên đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ổn định hơn các dân tộc khác. Do đã trải nghiệm trong tiến trình chọn đất ở và đất sản xuất cho nên người Thái đã khẳng định: “Mí nậm kin, chăng mí đin dú” (nghĩa là có nước ăn, uống), thì đất nơi đó mới ở được). Do vậy chúng ta thấy các bản mường của người Thái thường cư trú nơi “sơn chầu, thuỷ tụ”, đó là nơi vừa có đất lại sẵn nước, tạo nên cảnh quan bản làng trước mặt là ruộng, sau lưng là núi. Với lợi thế do thiên nhiên ban tặng nên rất thuận lợi cho việc phát triển cây lúa nước, vì thế người Thái đã truyền bảo nhau rằng: Đừng bỏ nghề làm ruộng nước để đi buôn bán, bởi vì: “Cấn sự tớ khai nứa/ báu pớn cần từ phưa dú tí (nghĩa là: Dù đi buôn dưới bán trên/ không bằng sức bền làm ruộng). Trong quá trình khai khẩn đất đai để làm ruộng, người Thái đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm chọn những nơi đất màu mỡ” Na đi dú tín bán” (ruộng tốt ở chân bản) để sản xuất. So với làm nương rẫy thì làm ruộng đem lại giá trị hơn nhiều” Háy tím tá, báu pớn nà hới nọi” (Rẫy đầy mắt không bằng một thửa ruộng con). Qua câu tục ngữ này, chúng ta thấy đồng bào nhận thức rất rõ ràng về lợi ích giữa làm rẫy và làm ruộng. Việc làm nương rẫy của người Thái tuy vẫn còn xảy ra xâm hại đến tài nguyên rừng và đất rừng, nhưng theo chúng tôi đó chỉ là giải pháp thứ yếu, còn việc làm ruộng vẫn là chủ yếu.

Điều này về bản chất khác hẳn với các dân tộc”ăn theo lửa”. Vì rằng các dân tộc sống dựa vào nương rẫy, qua nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rất ít đề cập đến vấn đề thâm canh, nhưng đối với người Thái các yếu tố: Nước, phân, cần, giống lại rất được chú trọng và được cấu thành qui trình trong công việc gieo trồng cây lúa nước.Việc làm ruộng nước bắt đầu từ việc be bờ, đắp đập, bồi đắp, nạo vét mương phai để chủ động tưới tiêu bảo đảm đủ nước cày cấy và sinh trưởng của cây lúa. Do vậy đòi hỏi người Thái phải xây dựng hệ thống mương phai để chủ động tưới tiêu theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa nước. Thông thường đồng bào dựa vào nguồn nước tự nhiên, tự chảy nơi đầu nguồn sông suối hoặc phải kè đá chặn dòng sông suối để dẫn nước vào mương tưới cho ruộng. Đây là công việc phải huy động nhiều người, tốn nhiều công sức và thường xảy ra rủi ro nhưng lại có ý nghĩa quyết định đến năng suất mùa vụ. Bởi vậy việc bảo vệ phai đập được đồng bào ví sánh ngang với bảo vệ tính mạng con người.

Người Thái ví rằng: “Po tai khư phai cạn” (Bố chết như phai vỡ). Cùng với củng cố mương phai, đồng bào còn làm cọn (guồng) nước để cuộn nước lên máng tưới cho ruộng. Cùng với việc lo đủ nước tưới cho lúa là lo giữ nước trong ruộng. Vì vậy đồng bào đã sáng tạo ra ruộng bậc thang mà ngày nay các nhà nhân học thường nói đó là một kỳ tích. Người Thái quan niệm rằng: “Nà mì mướng mì phai đi khấu” (Ruộng có mương có phai thì lúa tốt). Muốn giữ nước trong ruộng tất yếu phải đắp bờ giữ nước.

Vì thế thuỷ lợi là công đoạn quan trọng hàng đầu trong qui trình gieo trồng cây lúa nước và cần sự hợp sức của cộng đồng, bởi một cá thể, hay một gia đình không thể làm được. Do vậy, trong xã hội truyền thống của người Thái đã sớm hình thành ý thức cộng đồng. Từ trong lao động đã tạo ra sự liên kết sức mạnh cộng đồng. Sức mạnh ấy có cội nguồn từ nhu cầu tạo ra nhiều lúa gạo để nuôi sống con người.
 
 Ngày nay, người Thái đã thay đổi phương thức gieo trồng cây lúa nước do áp dụng khoa học kỹ thuật, thêm nữa những lợi thế từ môi trường đã không còn phù hợp với cách thức sản xuất truyền thống, tuy vậy những kinh nghiệm về gieo trồng cây lúa nước vẫn được lưu truyền trong đời sống cộng đồng.

Những tri thức dân gian còn bảo lưu được đến ngày nay chỉ còn trong những người già gắn bó với văn hoá Thái. Thời gian qua, nhiều địa phương, nhiều tổ chức, cá nhân đã sưu tầm, biên soạn, xuất bản văn hoá truyền thống Thái, việc làm này rất đáng trân trọng, song không đủ sức để bảo lưu và phát triển được trong cơ chế thị trường, nếu thiếu sự đầu tư của Nhà nước.

Lê Vui

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,483


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs