Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 03/07/2008
Gia Lai giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ, cộng đồng buôn, làng đồng bào các dân tộc thiểu số


Chăm sóc rừng cao su ở Gia Lai.

Tỉnh Gia Lai thuộc Bắc Tây Nguyên, là vùng đất có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng an ninh của đất nước. Là khu vực có tiềm năng lớn về kinh tế đang trong quá trình phát triển.

Nhân dân các dân tộc Gia Lai giàu truyền thống yêu nước, luôn kiên cường bất khuất trong cuộc đấu tranh chống xâm lược, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Hiện nay, dân số toàn tỉnh hơn 1.154.778 người, trong đó dân tộc Kinh (Việt) hơn 645.038 người, Jrai 354.236 người, Ba Na 144.656 người, các dân tộc khác 23.770 người. Tổng số hộ trên toàn tỉnh là 221.685 hộ, trong đó có 86.874 hộ đồng bào các dân tộc thiểu số. Toàn tỉnh có 13 huyện, 02 thị xã, 01 thành phố; 209 xã, phường, thị trấn; 2.021 thôn làng.

 Trong tổng số diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.553.693 ha, thì diện tích đất lâm nghiệp là 871.645,6 ha, trong đó đất có rừng là 719.314,6 ha. Độ che phủ rừng 46,3% tổng diện tích.

 Gia Lai có 02 vườn quốc gia và khu bảo tồn - Vườn quốc gia Kon Ka Kinh 41.780 ha, Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng 16.000 ha. Rừng của Gia Lai không chỉ lớn về diện tích, mà còn có giá trị hết sức đặc biệt về chất lượng, bởi sinh khối lớn và sự đa dạng, phong phú của hệ động thực vật, đồng thời cũng là nơi hiện diện của một số loài đặc hữu. Bên cạnh tài nguyên rừng, Gia Lai còn có lợi thế lớn về đất (diện tích đất nông nghiệp là 504.955 ha) và đây cũng là yếu tố góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của tỉnh. Tuy nhiên, những năm gần đây tài nguyên rừng của Gia Lai đã suy giảm trầm trọng, sự suy giảm ấy không chỉ về diện tích, mà còn suy giảm cả về khối lượng và thành phần các loài động thực vật.

 Trong những năm qua, việc chăm lo phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh nói chung và đối với vùng dân tộc thiểu số nói riêng đã có nhiều cố gắng: Nguồn lực nhà nước đầu tư vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực khá lớn. Nhiều chủ trương chính sách, giải pháp đã được nghiên cứu chỉ đạo thực hiện. Song nhìn chung, kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số chưa chuyển biến mạnh, cá biệt có nơi còn tụt hậu xa hơn so với một số vùng khác. Tình hình trên có thể do nhiều nguyên nhân như: Đầu tư hàng năm có tăng, nhưng chưa đủ tầm, còn lúng túng về cơ chế và phân tán các nguồn lực; việc giải quyết đất đai, nhà ở, nước sinh hoạt, tổ chức sản xuất, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số chưa đồng bộ, còn chậm trễ, khó khăn bức xúc… Đến khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg của về thực hiện thí điểm về giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng buôn, làng là đồng bào các dân tộc thiểu số, thì ở Gia Lai đối với đồng bào các dân tộc thiểu số có: 66.108 hộ nghèo; 3.702 hộ chưa có đất sản xuất; 3.702 hộ thiếu đất sản xuất.

 Đất đai ít cộng với tập quán sản xuất lạc hậu, nên trong nhiều năm qua đời sống của đồng bào không tránh khỏi tình trạng khó khăn, thiếu đói nhiều ngày trong năm. Về mặt xã hội, hiện chỉ có 36.583,2 ha rừng được giao cho các hộ gia đình và cộng đồng nên phần nào đã có sự phân hoá đất đai ở Gia lai; thực tế đó cũng xảy ra tình trạng mâu thuẫn về đất đai giữa đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ với các thành phần dân cư khác. Để giải bài toán về đất đai, trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã thực hiện những chủ trương đúng đắn, đó là ngăn chặn tình trạng di cư tự do từ các nơi khác đến Gia Lai nói riêng và Tây Nguyên nói chung nhằm hạn chế dần những vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp như phá rừng, mua bán, sang nhượng đất đai trái phép - vốn là một trong những nguyên nhân đẩy một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ trở thành người không có đất sản xuất.

 Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Uỷ ban nhân dân tỉnh đã phân công giao nhiệm vụ cho các cơ quan đơn vị chủ trì và phối hợp để giúp Uỷ ban nhân dân tổ chức thực hiện thông qua các công tác sau:

 + Thứ nhất, tiến hành điều tra, thống kê diện tích rừng và phân loại rừng, xác định giá trị rừng dự kiến giao. Cũng thời điểm thực hiện Quyết định 304/2005/QĐ-TTg tỉnh cũng tổ chức rà soát, qui hoạch lại 3 loại rừng theo chỉ thị số38/2005/CT-TTg và xem xét đơn vị làng và hộ dân tộc thiểu số tại chỗ thiếu đất hoặc chưa có đất sản xuất có nguyện vọng nhận giao rừng, khoán bảo vệ rừng.

 Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các Ban, Ngành có liên quan phối hợp với Uỷ ban nhân dân các huyện, thị, các đơn vị chủ rừng xác định đúng đối tượng cần được giao rừng, khoán bảo vệ rừng, xác định diện tích rừng dự kiến sẽ giao, khoán bảo vệ rừng trên địa bàn cụ thể.

 + Thứ hai, nâng cao nhận thức đối với đồng bào. Dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tổ chức cuộc họp với các huyện, thị, các đơn vị chủ rừng bàn biện pháp tổ chức thực hiện việc giao, khoán rừng. Uỷ ban nhân dân các huyện thành lập các Ban chỉ đạo giao, khoán bảo vệ rừng theo Quyết định 304/2005/QĐ-TTg của địa phương mình. Các địa phương, các đơn vị chủ rừng chủ động tổ chức tuyên truyền đến tận người dân trong vùng để nhân dân thấy được sự quan tâm của Chính phủ đến đời sống của người dân, mà tích cực tham gia nhận giao, khoán bảo vệ rừng.

 Sau hai năm (2006 - 2007) tổ chức thực hiện (đợt một) thí điểm việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng, kết quả: Diện tích giao rừng 4.274,2 ha cho 185 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, hộ được giao nhiều nhất là 30 ha, hộ được giao thấp nhất là 14 ha, bình quân mỗi hộ được giao 23,1 ha. Các hộ gia đình nhận rừng đã tiến hành bảo vệ rừng, số diện tích đất trống, đồi núi trọc là 118,3 ha đã được cấp cây giống (Điều và Tre điền trúc) để trồng, những hộ thiếu đói đã được hỗ trợ gạo theo phương án đã phê duyệt. Diện tích rừng khoán bảo vệ theo Quyết định 304/2005/QĐ-TTg là 7.909,9 ha cho 292 hộ gia đình, bình quân mỗi hộ nhận khoán 27 ha. Các hộ gia đình nhận khoán đã tổ chức bảo vệ tốt diện tích rừng được giao. Trong năm 2007, các đơn vị chủ rừng đã chi trả tiền công khoán bảo vệ rừng, các hộ thiếu đói đã được hỗ trợ gạo theo qui định.

 Hiện nay, tỉnh đang triển khai đợt hai, theo đó, sẽ có 10.496 ha, với 346 hộ, 05 cộng đồng, trong 19 thôn, làng được giao rừng và có 32.613 ha, với 1.209 hộ và 31 cộng đồng, ở 128 thôn, làng được giao khoán bảo vệ rừng, đạt 80% so với kế hoạch. Những kết quả bước đầu đó đã có những ảnh hưởng tích cực như: Các cấp chính quyền và người dân đã nhận thức được để gắn bó dân với rừng trước hết phải giao rừng cho dân, hoặc khoán rừng cho dân. Đây là quá trình xác lập rõ ràng quyền sử dụng rừng để dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất tạo thu nhập ổn định, từ đó công tác bảo vệ rừng mới được đẩy mạnh và có hiệu quả. So với Quyết định 178 trước đây, thì giao rừng, khoán bảo vệ rừng theo Quyết định 304/2005 có nhiều ưu đãi và mang lại quyền lợi nhiều hơn đối với người dân, cụ thể như: ngoài việc được hưởng toàn bộ lâm sản khai thác theo qui định, người nhận rừng còn được hỗ trợ một khoản tiền công nhận khoán và hỗ trợ gạo để giải quyết nhu cầu lương thực trong thời gian đầu; được hỗ trợ giống cây trồng; và nếu là hộ thuộc đối tượng theo Quyết định 132, 134 còn được hỗ trợ tiền khai hoang, nước sinh hoạt, làm nhà ở. Đây là những ưu đãi thật sự cần thiết đối với các đối tượng nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Việc tổ chức giao rừng, khoán bảo vệ rừng đối với các hộ thiếu đất sản xuất đã giảm diện tích rừng sử dụng không hiệu quả hoặc chưa sử dụng ở các lâm trường; giảm sức ép về khai hoang đất sản xuất cho đồng bào; góp phần giảm tình trạng tranh chấp đất đai giữa người dân địa phương với các lâm trường, ban quản lý rừng; góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động là đồng bào các dân tộc thiểu số, từng bước xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, tăng cường ổn định tình hình chính trị ở vùng nông thôn miền núi.

 Bên cạnh kết quả và những tác động tích cực đối với một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số, việc triển khai thực hiện Quyết định 304/2005/QĐ-TTg trong thời gian chưa lâu, nên chưa đạt được những yêu cầu và mục tiêu đề ra, cụ thể như: Triển khai chậm, mới đạt 80% kế hoạch được phê duyệt, phần lớn diện tích rừng giao chưa hoàn thành thủ tục giao quyền sử dụng đất, sử dụng rừng.

 Sau khi giao rừng, khoán bảo vệ rừng, ngoài việc hỗ trợ cấp gạo cho hộ thiếu đói các địa phương chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp hỗ trợ khác, do đó, các biện pháp tác động vào rừng để tạo ra sản phẩm có thu nhập chưa có nhiều chuyển biến so với các hình thức giao rừng, khoán rừng trước đây. Người dân chưa được giao những khu rừng tốt thuận lợi mà chủ yếu vẫn là những khu rừng có chất lượng không cao, khó bảo vệ mà các chủ rừng khó có khả năng kiểm soát.

 2. Quyết định 304/2005/QĐ-TTg của Chính phủ là chủ trương lớn thể hiện sự quan tâm đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của Gia Lai nói riêng và Tây Nguyên nói chung; mặc dù đã có sự quan tâm nhưng sự phối hợp chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ và chưa căn cứ vào tình hình thực tế. Sự phối hợp giữa các hạng mục của Chương trình 132, 134 của Chính phủ và Quyết định 304 chưa được thông suốt giữa các hạng mục đầu tư và nguồn tài chính chưa được rõ ràng; nhận thức và thực hiện Quyết định 304 của Chính phủ chưa đầy đủ. Do vậy, sau hai năm thực hiện việc giao rừng và khoán bảo vệ rừng ở Gia Lai còn có những vấn đề cần quan tâm hơn trong thời gian tới, đó là:

 + Một là, trong quá trình chỉ đạo xây dựng phương án giao rừng, khoán bảo vệ rừng chỉ tập trung vào các đối tượng hộ nghèo thuộc diện 134. Điều này chưa phù bởi việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng không chỉ tập trung vào các đối tượng đó mà cần phải gắn liền với cộng đồng thôn làng - bao gồm cả hộ nghèo.

Có như vậy, thì khi triển khai mới không lúng túng ở các đơn vị cơ sở. Hơn nữa, cũng cần chú ý đến quy trình giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho phù hợp với thực tế, không vì phải đẩy nhanh tiến độ mà thực hiện không đúng quy định.

 + Hai là, phải gắn việc giao đất với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Có như vậy người dân mới an tâm sản xuất, có kế hoạch tính toán để hưởng lợi ích từ việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng.

 + Ba là, vấn đề kinh phí cũng cần được quan tâm đúng mức; theo công văn số 2907/BNN-LN ngày 07 tháng 11 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, công văn số 16328/BTC-NSNN ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài chính xác định việc cân đối ngân sách của địa phương, trường hợp ngân sách tỉnh khó khăn không cân đối được thì báo cáo các Bộ tổng hợp để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Đây là vấn đề khó cho địa phương, vì tỉnh đang còn khó khăn về ngân sách nên không thể bố trí triển khai rộng được.

Nếu cứ triển khai rồi tổng hợp chờ ngân sách Trung ương phân bổ thì sẽ không có kinh phí cấp cho người nhận rừng và sẽ gây mất lòng tin trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Do vậy, Trung ương nên quan tâm và bổ sung kinh phí kịp thời để kế hoạch triển khai giai đoạn hai có hiệu quả hơn (Bổ sung và hỗ trợ kinh phí theo tinh thần Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ).

 + Bốn là, việc thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với hộ và cộng đồng nhận rừng, khoán bảo vệ rừng cần thống nhất. Việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng là có cả cộng đồng; nếu trong cùng một cộng đồng mà có những chính sách áp dụng riêng biệt cho từng loại đối tượng dễ gây ra sự hiểu nhầm trong nội bộ cộng đồng đó. Thời gian vừa qua cũng nhận rừng như nhau nhưng có hộ được hỗ trợ gạo, hộ được nhận tiền công khoán, nhưng có hộ chỉ được hưởng lợi từ rừng khi đến tuổi khai thác. Nếu những vướng mắc trên không giải quyết được thì chính người dân được thụ hưởng các chính sách ưu đãi cũng không muốn nhận rừng.

 Mặt khác, cho phép các địa phương vận dụng việc hỗ trợ gạo cho người dân nghèo theo Quyết định số 304 được quy đổi giá trị hỗ trợ bằng tiền, chỉ nơi nào người dân không thể tự mua được lương thực thì mới hỗ trợ bằng hiện vật.

 Quyết định 304/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là một trong những chủ trương nhằm vào quá trình xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, từng bước cải thiện đời sống của đồng bào. Tuy nhiên, thời gian triển khai thực hiện chưa nhiều, những kết quả nêu trên cũng chỉ là bước đầu, cần được đánh giá rút kinh nghiệm kịp thời để triển khai thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

Lê Xuân Hoa
 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,573


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs