Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 01/07/2008
Dạy nghề cho học sinh dân tộc thiểu số
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nhằm từng bước nâng cao chất lượng lao động, phát huy nguồn nhân lực dồi dào của vùng. Bên cạnh những chính sách về giáo dục, các chính sách liên quan đến đào tạo và dạy nghề cho học sinh, thanh niên dân tộc thiểu số cũng đang được xây dựng và ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của cả nước.

Theo tổng điều tra dân số năm 1999, nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số chiếm 12,54% nguồn nhân lực cả nước (tính từ 13 tuổi). Trong đó 96,3% chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong số lực lượng qua đào tạo, công nhân kỹ thuật có chứng nhận chiếm 1,08%, trung học chuyên nghiệp chiếm 1,63%, trình độ cao đẳng và đại học chỉ chiếm 0,87%. Chỉ tính tính riêng ba vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ hiện nay tỷ lệ thanh niên dân tộc được đào tạo nghề là dưới 10% (tỷ lệ này của cả nước là 19,21%).

 Qua số liệu trên cho thấy, vấn đề đào tạo nghề trong nâng cao chất lượng lao động, phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số có vai trò quan trọng và là vấn đề bức thiết trong giai đoạn hiện nay.

Thanh niên dân tộc thiểu số chiếm số lượng lớn và là nguồn lao động dồi dào, đầy hứa hẹn trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng dân tộc và miền núi. Việc nâng cao trình độ cho lực lượng lao động dân tộc là sự quan tâm của các nhà quản lý trong đó dạy nghề là sự lựa chọn hàng đầu, mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 Ngày 31 tháng 10 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc nội trú, trong đó quy định:

 Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông dân tộc nội trú kể cả nội trú dân nuôi được cử tuyển học nghề nội trú, trong đó ưu tiên con em các dân tộc thiểu số ở khu vực đặc biệt khó khăn. Thời gian đào tạo nghề từ 3 tháng trở lên. Trong thời gian học nghề đối tượng học sinh trên được hưởng học bổng, trợ cấp xã hội và các chính sách khác như học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú.

 Trường hợp không đủ điều kiện học nghề nội trú tại các cơ sở dạy nghề công lập với các nghề có thời gian đào tạo từ 3 tháng trở lên thì được học nghề theo Quyết định 81/2005/QĐ-TTg ngày 4/8/2005 về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn.

 Cho đến nay, đây là chính sách lớn nhất quy định cụ thể về việc dạy nghề cho học sinh dân tộc thiểu số. Chính sách đã bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ. Theo ước tính thì có khoảng 20% học sinh tốt nghiệp các trường phổ thông dân tộc nội trú được vào học tại các trường dạy nghề nội trú. Tuy nhiên, Quyết định 267/2005/QĐ- TTg chỉ dành cho những đối tượng là học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú. Thực tế cho thấy số học sinh học ở các trường phổ thông dân tộc nội trú chỉ chiếm 10% tổng số học sinh là người dân tộc thiểu số. Như vậy, chính sách dạy nghề cho học sinh phổ thông dân tộc nội trú chỉ đáp ứng được một phần nhỏ so với nhu cầu học nghề của học sinh dân tộc thiểu số.

 Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo hầu hết các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đều có chương trình hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh với các nghề như: may, thêu, đan lát, điện, điện tử, vi tính, lâm nghiệp… Tuy nhiên, chương trình chỉ mang tính chất và mục đích định hướng nghề nghiệp cho các em sau này, chưa đào tào thành một nghề cụ thể. Mặt khác, do nhu cầu học tập và mục đích khác nhau nên các trường ở những địa bàn khác nhau triển khai thực hiện chương trình này không thống nhất, có nơi, có trường coi đây là chương trình phụ nên hoạt động mang tính đối phó, rất mờ nhạt.

Như vậy, vấn đề dạy nghề trong các trường phổ thông hiện nay chưa thực hiện đúng mục đích và yêu cầu của chính sách. Dạy nghề cho học sinh, đặc biệt là học sinh trong các trường phổ thông dân tộc nội trú trong thời gian tới cần được đầu tư và quan tâm hơn. Chương trình dạy cần đổi mới cho sát với thực tế, học đi đối với hành để sau khi ra trường các em học sinh vừa có trình độ văn hoá vừa trang bị được một nghề để bước vào cuộc sống. Mặt khác, cần đa dạng hoá các ngành nghề theo hướng gần gũi, thiết thực với cuộc sống, không chỉ dạy các nghề trong chương trình mà nên dạy các nghề thị trường cần.

 Nghị định 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề có 2 điều quy định về chính sách đối với dân tộc thiểu số:

 Cơ sở dạy nghề cho người dân tộc thiểu số được xét giảm, miễn thuế, người học nghề là người dân tộc thiểu số được hỗ trợ học nghề.

 Luật Dạy nghề được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2007 có quy định:

 Hỗ trợ các đối tượng được hưởng chính sách người có công, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, khuyết tật trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho hộ được học nghề.

 Nhà nước có chính sách đầu tư, đảm bảo các điều kiện cho cơ sở dạy nghề tiếp nhận học sinh phổ thông dân tộc nội trú khi ra trường được vào học nghề.

 Học sinh tốt nghiệp trường trung học cơ sở dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông dân tộc nội trú, kể cả nội trú dân nuôi được tuyển thẳng vào học trường trung cấp nghề. Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú khi chuyển sang học nghề được hưởng chính sách như học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú.

 Hiện nay khung chính sách đối với việc dạy và học nghề cho học sinh, thanh niên dân tộc thiểu số đã được quan tâm nhưng chưa đầy đủ. Thực tế cho thấy, dù chính sách đã được ban hành nhưng mới đáp ứng được khoảng 10-15% nhu cầu học nghề ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đối tượng được thụ hưởng các chính sách trong học nghề mới dừng lại ở các học sinh dân tộc trong các trường phổ thông dân tộc nội trú (khoảng 10% trong tổng số học sinh dân tộc thiểu số). Chưa có chính sách hỗ trợ cho học sinh dân tộc thiểu số học ở các trường đại trà (khoảng 90% trong tổng số học sinh dân tộc thiểu số). Ngoài ra, thanh niên dân tộc thiểu số có nhu cầu học nghề rất lớn nhưng cũng chưa có chính sách ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ cụ thể cho đối tượng này.

 Theo báo cáo của Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTBXH), tính đến năm 2005 cả nước có 248 trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có dạy nghề; 40 trường cao đẳng chuyên dạy nghề; 232 trường trung cấp nghề và 556 trung tâm dạy nghề. Riêng khu vực Tây Bắc chỉ có 47 cơ sở dạy nghề và phân bố rất không đồng đều. Như vậy, so với mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2006 - 2010 thì quy mô các trường hiện nay mới chỉ đáp ứng được 48% yêu cầu với tuyển sinh dạy nghề dài hạn thì mới đáp ứng được 35%. Cùng với cơ sở vật chất chưa đáp ứng được thì chương trình dạy cũng chưa thật phù hợp với nhu cầu thực tế của từng địa phương. Dạy nghề cho đối tượng là học sinh, thanh niên dân tộc thiểu số nhằm mục đích chính là nâng cao chất lượng lao động phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nên dạy nghề cần gắn với xu hướng phát triển chung và gắn với giải quyết việc làm.

 Để từng bước hoàn thiện khung chính sách, phát triển và thực hiện có hiệu quả việc dạy nghề cho học sinh dân tộc thiểu số, trước hết các bộ, ngành và địa phương liên quan cần khẩn trương xây dựng chính sách hỗ trợ học nghề cho học sinh, thanh niên dân tộc thiểu số. Với học sinh là người dân tộc thiểu số không học tại các trường Phổ thông dân tộc nội trú (không thuộc đối tượng theo QĐ 267/2005/QĐ-TTg).

Gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm thông qua các chính sách ưu tiên khuyến khích các doanh nghiệp đơn vị tuyển dụng, sử dụng nhân công là người dân tộc thiểu số. Đồng thời đổi mới chương trình dạy cho phù hợp với đối tượng học, phù hợp với đặc điểm văn hoá, nhu cầu thực tế của địa phương và xã hội. Cần đầu tư thích đáng cho việc xây dựng cơ sở vật chất và hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới dạy nghề. Phân cấp quản lý và trao quyền chủ động cho các cơ sở dạy nghề trong việc lựa chọn mô hình đào tạo, ngành nghề đào tạo. Đồng thời đẩy mạnh công tác xã hội hoá công tác dạy nghề bằng việc ban hành cơ chế chính sách khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho dạy nghề, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đồng thời phát huy vai trò chủ đạo của Nhà nước trong phát triển dạy nghề.

 Việc làm và nghề nghiệp là yêu cầu cấp thiết của xã hội trong quá trình phát triển, là nguyện vọng chính đáng và là mối quan tâm hàng đầu của mỗi người lao động. So với các đối tượng khác, học sinh, thanh niên dân tộc thiểu số ít có cơ hội tiếp xúc với những liến bộ xã hội do đó cần có chính sách cụ thể và tạo điều kiện hơn nữa cho học sinh, thanh niên dân tộc thiểu số được học nghề để đảm bảo cuộc sống, tiến tới làm giàu cho bản thân và xã hội. Đây là đòi hỏi bức thiết cần có sự quan tâm giải quyết của các cấp, các ngành và của toàn xã hội.

Đoàn Thị Kiều Vân

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,892,411


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs