Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 03/07/2008
Xu hướng biến đổi chức năng, vai trò của già làng ở Tây Nguyên hiện nay


Già làng - trụ cột của buôn làng, chủ lễ của những lễ hội truyền thống.

Hiện nay ở Tây Nguyên có 3.702 già làng (trong đó tỉnh Lâm Đồng 672, Đắc Nông 128, Đắc Lắc 556, Gia Lai 1.228, Kon Tum 1.118). Đa số các dân tộc bản địa Tây Nguyên theo chế độ mẫu hệ, mọi quyền bính đều do người mẹ quyết định, nhưng các già làng lại chủ yếu là nam giới. Theo chúng tôi xu hướng biến đổi chức năng, vai trò của họ được thể hiện như sau:

- Chức năng của già làng vận động theo hướng ngày càng đa dạng hơn cả về nhiệm vụ, nội dung, hình thức:
 
 Các tộc người dân tộc thiểu số ở nước ta nói chung, ở Tây Nguyên nói riêng vốn dĩ có tính cố kết cộng đồng rất cao. Do điều kiện môi trường sinh sống cùng với nhu cầu sinh hoạt, sinh tồn của tộc mình nên đặt ra cho các thành viên phải có sự liên kết để phát triển sản xuất, bảo vệ nòi giống, xây dựng cuộc sống yên vui của cộng đồng.
 
 Các già làng ở vào giai đoạn cách xa chúng ta 5-6 thập kỷ, là chỗ dựa về tinh thần cho cộng đồng, chỉ dẫn giúp đồng bào dân tộc có ý thức xây dựng cộng đồng, xử lý những vấn đề liên quan đến tập tục, các nghi lễ (cầu may, cầu mưa, đặt tên, nghi lễ trưởng thành, ma chay…), đời sống tâm linh.
 
 Tính quy luật trong sự vận động, phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các vùng kinh tế ngày càng thể hiện rõ trong đời sống cộng đồng. Do nhu cầu mưu sinh tồn tại và phát triển, các cuộc di dân từ phía bắc vào cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất đã từng bước làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội Tây Nguyên. Chính điều kiện kinh tế, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ đã làm thay đổi nhận thức, tầm nhìn của các cộng đồng dân tộc thiểu số nơi đây. Tác động của công nghiệp hoá cùng với việc cư dân di cư sống xen cư với đồng bào dân tộc thiểu số đã có sự giao thoa văn hoá, từng bước phá vỡ thế khép kín của cộng đồng. Quan hệ xã hội ngày càng mở rộng, đa dạng hơn, trao đổi sản phẩm, mua bán diễn ra sôi động trên thị trường.
 
 Trước sự vận động đa chiều, năng động phức tạp đó cũng tác động không nhỏ làm biến đổi nhận thức tư duy, lề lối phong cách, phương thức hoạt động của già làng. Họ bộn bề hơn với nhiệm vụ, không còn đơn thuần giải quyết các vấn đề trong nội bộ buôn làng như xử lý các tập tục, bảo tồn bản sắc văn hoá mà chức năng vai trò của già làng đã có tầm bao quát rộng hơn như giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, xây dựng đời sống văn hoá, ý thức pháp luật, mọi công dân phải sống và làm việc theo pháp luật.
 
 ở những giai đoạn trước đây già làng chủ yếu vận động cá biệt từng người, từng hộ gia đình, nhưng nay hình thức đó vẫn cần nhưng được kết hợp bởi nhiều hình thức phương pháp linh hoạt, đa dạng hơn. Chẳng hạn như tổ chức họp buôn làng, kết hợp với trưởng thôn, trưởng bản, các chi hội trưởng, phụ nữ, nông dân, Đoàn thanh niên, cựu chiến binh, bộ đội biên phòng để thảo luận, hiến kế tìm chọn các biện pháp tối ưu nhất. Hoặc thông qua các cuộc họp giao ban tổng kết trong đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp để tạo sự đồng thuận trong nhận thức và cách làm.
 
 - Vừa coi trọng bảo tồn giá trị văn hoá của dân tộc Tây Nguyên vừa chủ động tiếp nhận giá trị văn hoá tiên tiến đương đại
 
 Cần khẳng định rằng các già làng Tây Nguyên có vai trò to lớn trong việc giữ gìn, bảo tồn phát huy bản sắc văn hoá. Ưu điểm nổi trội của các già làng là họ có uy tín cao trong cộng đồng, gương mẫu trong nhận thức và hành động, am hiểu sâu sắc đời sống văn hoá, tâm linh, bản sắc văn hoá của cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong dòng chảy phát triển của văn hoá, các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã để lại kiệt tác văn hoá cồng chiêng cho dân tộc, làm đậm đà phong phú bản sắc văn hoá của dân tộc Việt nam. Văn hoá cồng chiêng - sự đa sắc trong ngôn ngữ âm thanh đã làm sống dậy tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh quật cường chống giặc ngoại xâm, khẳng định lý tưởng sống, khát vọng được sống trong hoà bình, ấm no, hạnh phúc của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
 
 Khi nói đến bản sắc là muốn nói đến tính độc lập, cá tính, ít pha trộn, ít thay đổi. Song sự giao lưu mở cửa hội nhập đã làm cho những yếu tố của bản sắc văn hoá được thẩm thấu, “cộng sinh” làm phong phú giá trị truyền thống, bản sắc văn hoá của các dân tộc Tây Nguyên. Bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên được bổ sung phát triển, làm phong phú nội hàm của nó chứ không phải biến dạng, lai căng xa rời những tiêu chí của bản sắc văn hoá. Với vốn sống và kinh nghiệm, các già làng đã có khả năng nhận xét thẩm định những yếu tố tích cực, tiên tiến, gạn đục khơi trong để lọc bỏ những độc tố phản văn hoá, không hợp thời, trái với tập quán sinh hoạt, nhu cầu chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số.
 
 - Từ chức năng tư tưởng, giáo dục, hoà giải, giải quyết những vấn đề tập tục trong nội bộ sang chức năng tổ chức kinh tế
 
 Đây là chức năng mang tính quy luật vận động rõ nhất của các già làng Tây Nguyên trong hơn hai thập kỷ lại đây. Điều này đặt ra cho già làng, cán bộ chủ chốt cơ sở phải hướng vào giải quyết vấn đề căn cốt nhất của cuộc sống. Thiếu nó thì khó có thể giải quyết các vấn đề khác một cách đồng bộ, hiệu quả. Trong những năm qua ở Tây Nguyên cho thấy có những gia đình đồng bào dân tộc thiểu số do điều kiện kinh tế khó khăn nên con cái không có điều kiện để theo học, ốm đau không đến khám và điều trị ở bệnh viện mà nhờ các thầy mo kê đơn bốc thuốc, rốt cuộc bệnh chẳng khỏi, gia đình lại mất thêm một khoản tiền không cần thiết. Qua đó cho thấy hệ luỵ của kinh tế gia đình thiếu thốn sẽ nảy sinh thêm những vấn đề xã hội phức tạp như nghiện hút, cờ bạc, bạo lực trong gia đình.
 
 Đương nhiên hiện nay, các già làng còn phải tiếp tục làm chức năng giáo dục tư tưởng, giải quyết những mâu thuẫn, xung đột ở một số gia đình trong buôn làng. Nhưng chức năng kinh tế được coi là vấn đề nổi trội thúc bách đặt ra cho già làng. Ngay cả chức năng giáo dục, vận động cũng tham gia tích cực vào chức năng kinh tế, gắn chính trị với kinh tế. Sự vận động biến đổi của chức năng này xuất phát từ mấy lý do sau:
 
 + Già làng sản xuất giỏi không chỉ ổn định cuộc sống cho gia đình mà còn là tấm gương cho đồng bào dân tộc thiểu số học tập noi theo.
 
 + Kinh tế là vấn đề gốc, quyết định đến chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của từng gia đình, cộng đồng.
 
 + Khi già làng xử lý, giải quyết các vấn đề về tập tục, mâu thuẫn trong nội bộ đồng bào dân tộc, xây dựng các hương ước, quy ước không thể tách khỏi vấn đề kinh tế của cộng đồng.
 
 + Các già làng là những người thổ cư bản địa hiểu được môi trường địa lý, khí hậu, tập quán canh tác, đồng thời nắm được đặc điểm tâm lý, kiến nghị đề xuất của đồng bào dân tộc thiểu số để phản ánh cho tổ chức đảng, chính quyền. Do đó các cấp uỷ, chính quyền cần tổ chức cho các già làng góp ý, đề xuất chủ trương phát triển kinh tế của địa phương để tham khảo hoàn thiện. Làm được như vậy vừa thể hiện sự cầu thị, tôn trọng các già làng vừa động viên họ chủ động trong việc hiến kế đề xuất.
 
 Chức năng vai trò tổ chức kinh tế của các già làng trong việc phát triển kinh tế của địa phương thể hiện ở chỗ:
 
 + Đề xuất góp ý vào các chủ trương, nghị quyết, đề án phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
 
 + Bám sát quá trình tổ chức thực hiện, vận động bà con cùng thực hiện. Qua đó phát hiện, kiến nghị với cấp uỷ có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung những điểm còn sơ hở, thiếu sót, không phù hợp với thực tiễn.
 
 + Cùng cấp uỷ, chính quyền đoàn thể chính trị xã hội tổng kết rút kinh nghiệm quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương đó, rút ra nguyên nhân, kinh nghiệm.
 
 + Bản thân các già làng phải luôn nêu gương sáng về làm kinh tế giỏi, có cuộc sống no đủ, hạnh phúc. Đây là nhân tố để lay động, lan toả đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong lao động sản xuất, xoá đói giảm nghèo.
 
 - Già làng với việc vận động chấp hành ý thức luật tục sang chức năng vận động chấp hành pháp luật
 
 Luật tục thực chất là những quy định, quy ước của từng dân tộc thiểu số để giáo dục, điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng. Các quy định đó đã được bà con dân tộc thiểu số thảo luận đi đến quyết nghị thống nhất trở thành ý chí chung của cộng đồng. “Dưới góc độ pháp lý các nhà khoa học pháp lý cho rằng luật tục là một dạng quy phạm xã hội, là chuẩn mực xã hội, giới hạn hành vi ứng xử của mỗi cá nhân và cả cộng đồng sao cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng...là công cụ điều chỉnh, điều hoà các quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với gia đình, dòng họ, buôn làng, với xã hội, với tự nhiên và với cả các lực lượng siêu nhiên...nhằm ổn định một trật tự có lợi cho toàn thể cộng đồng”. Luật tục và luật pháp có điểm tương đồng giống nhau là điều chỉnh các hành vi của con người, công dân nhằm đạt tới những chuẩn mực, hoàn thiện nhân cách con người vì sự hướng thiện, tôn trọng lẽ phải và sự công bằng. Song luật tục mang tính ước lệ, nội bộ của từng cộng đồng dân tộc thiểu số, còn luật pháp là thể hiện ý chí chung của toàn xã hội, mang tính bắt buộc mọi công dân phải tuân theo.
 
  Cần phải thấy rằng, nếu đồng bào dân tộc thiểu số có ý thức chấp hành tốt luật tục là cơ sở để chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước. Hai vấn đề này liên quan chặt chẽ, tạo tiền đề cho nhau.
 
 Nhờ các quy định của luật tục được luật hoá nên các già làng điều chỉnh xử lý những hành vi của bà con liên quan đến luật tục, đảm bảo tính giáo dục răn đe và đảm bảo khách quan, công bằng, kịp thời. Cần đánh giá khách quan rằng vai trò của luật tục đã góp phần điều chỉnh các mối quan hệ xã hội dân sự trong các buôn làng theo hướng ổn định, đi vào nền nếp, tăng tính cố kết của cộng đồng, giáo dục nhắc nhở mọi người làm việc thiện, không làm tổn hại lợi ích của cộng đồng. Trước yêu cầu mới của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân phải sống và làm việc theo luật pháp càng đặt ra cho già làng thêm chức năng nhiệm vụ mới tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức pháp luật, chấp hành pháp luật cho con em, công dân người dân tộc thiểu số. Đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ chấp hành tốt luật tục mà còn phải có ý thức chấp hành tốt luật pháp. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ này đòi hỏi các già làng phải được cấp phát các tài liệu hướng dẫn thực hiện pháp luật, được bồi dưỡng tập huấn kiến thức luật pháp để hướng dẫn cho đồng bào nâng cao nhận thức, chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước.
 

TS. Nguyễn Thế Tư

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,913,105


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs