Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 08/05/2008
Những vấn đề đặt ra từ kết quả thực hiện quyết định 134 tại Nghệ An, Thanh Hoá, Hoà Bình


Gia đình ông Bùi Văn Sơn ở Quê Sụ, Cao Răm (Lương Sơn - Hoà Bình) được Chương trình 134 hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ và kinh phí của gia đình đã xây dựng được căn nhà mới khang trang.

Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn thực hiện theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ là chính sách lớn, đặc biệt của Đảng và Nhà nước dành cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo.

Thời gian qua, ba tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá, Hoà Bình đã tích cực tổ chức thực hiện, từ việc thành lập các Ban chỉ đạo từ tỉnh đến huyện và xã; ban hành các văn bản triển khai đến cơ sở, tuyên truyền vận động đồng bào tích cực thực hiện, kết quả đạt được cho thấy:

 Về đất sản xuất: nhu cầu đất sản xuất ở cả 3 tỉnh không phải là cao, cộng đồng và người dân vẫn có thể tự lo được là chính.

 Về đất ở: Kết quả đến hết năm 2007, tỉnh Nghệ An đã giải quyết được 85% kế hoạch, Thanh Hóa đạt 75% kế hoạch và Hòa Bình đã cơ bản giải quyết cho các hộ thiếu đất kết hợp làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho hộ dân.

 Về nhà ở: Đây là nội dung được các tỉnh hết sức quan tâm với yêu cầu là kết cấu và quy mô nhà ở được thiết kế phù hợp với tập quán của từng dân tộc và do người dân tự lựa chọn quyết định và theo các định mức hỗ trợ ở từng tỉnh: Nhà nước hỗ trợ 6000.000đ bằng tiền mặt hoặc vật tư (như ở Nghệ An); 6.000.000đ/hộ bằng vật liệu: Xi măng, gạch, tấm lợp hoặc tre, bương, gỗ; trường hợp hộ gia đình tự lo được các loại vật liệu nêu trên thì hỗ trợ bằng tiền (như ở Hòa Bình) và 5.000.000đ bằng tiền mặt (như ở Thanh Hóa, không có 20% vốn đối ứng của tỉnh theo quy định vì là tỉnh nghèo). Đồng thời, ngoài mức hỗ trợ trên tuỳ theo điều kiện của địa phương và mức độ đói nghèo của từng hộ, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp vận động đóng góp thông qua các tổ chức đoàn thể để hỗ trợ cho hộ bằng tiền, vật liệu, ngày công với tinh thần tương thân, tương ái. Đối với các địa phương có điều kiện về vật liệu gỗ, tre nứa thì xây dựng kế hoạch trình Uỷ ban nhân dân các cấp để khai thác vật liệu hỗ trợ cho hộ làm nhà ở theo quy trình của Bộ Nông nghiệp và PTNT, coi đây là phần hỗ trợ bổ sung của địa phương. Mức hỗ trợ cụ thể do Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định (như ở Thanh Hóa từ 6-9m3 gỗ, các tỉnh còn lại tùy theo nhu cầu và khả năng của địa phương để giải quyết cụ thể).

 Kết quả đến hết năm 2007: Tỉnh Nghệ An đã giải quyết được 15.136nhà/18.606hộ, đạt 81,35% số hộ theo đề án, giá trị thực hiện 90.816triệu đồng (trong đó kinh phí Trung ương cấp 75.550 triệu đồng, kinh phí địa phương 13.885 triệu đồng, kinh phí khác 1.381 triệu đồng); Giá trị những căn nhà từ 7 đến 32 triệu đồng (ở huyện Quỳ Châu); từ 10 đến 45 triệu đồng (ở huyện Quế Phong). Tỉnh Thanh Hóa đã hỗ trợ xây dựng 25.188 nhà/1.100 thôn bản, đạt 81,9% với kinh phí hỗ trợ 125.940 triệu đồng (kinh phí Trung ương là: 122.000 triệu đồng; kinh phí khác: 3.940 triệu đồng). Bình quân giá trị xây dựng từ 13 đến 14 triệu đồng/nhà (Trong đó kinh phí nhà nước hỗ trợ 5 triệu đồng/nhà; kinh phí huy động đóng góp của các tổ chức, dòng họ anh em và gia đình tự có từ 8 đến 9 triệu đồng/nhà); Giá trị những căn nhà từ 12,3 đến 20,7 triệu đồng (ở huyện Quan Hóa); từ 9 đến 26 triệu đồng (ở huyện Quan Sơn).

 Tỉnh Hòa Bình đã hỗ trợ xây dựng 14.457 nhà/14.525 hộ đạt 99,5% kế hoạch, với tổng kinh phí nhà nước đã hỗ trợ là 86.742 triệu đồng. Giá trị những căn nhà từ 7 đến 28 triệu đồng (ở huyện Yên Thủy); bình quân 9,7 triệu đồng (ở huyện Đà Bắc).

 Về nước sinh hoạt: Công trình nước tập trung, sau 3 năm thực hiện, tỉnh Nghệ An đã hòan thành 26/185 công trình nước sinh hoạt tập trung, đạt 14,1% kế hoạch, số hộ hưởng lợi 3.746hộ/12.179hộ, với tổng kinh phí thực hiện 22.450 triệu đồng. Tỉnh Hòa Bình, từ năm 2007 tỉnh đã xây dựng 127/382 cụm công trình nước sinh hoạt tập trung, 9503/30.087hô, đạt 33% kế hoạch, kinh phí thực hiện 17.013 triệu đồng. Nước sinh hoạt phân tán, cả 3 tỉnh chưa thực hiện; riêng Thanh Hóa chưa hỗ trợ xây dựng công trình nước sinh hoạt tập trung.

 Qua giám sát tại 3 tỉnh cho thấy, Quyết định 134 là một chính sách đúng đắn, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số và là chính sách đầu tư trực tiếp tới hộ nghèo và cộng đồng. Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương đã phối hợp chặt chẽ trong công tác chỉ đạo và ban hành 22 văn bản hướng dẫn các địa phương thực hiện cũng như giải quyết các vấn đề vướng mắc tại địa phương. Cơ quan Thường trực là Uỷ ban Dân tộc (ở Trung ương) và Ban Dân tộc các tỉnh đã tích cực chủ động tham mưu, kiến nghị kịp thời giải quyết những khó khăn vướng mắc để triển khai thực hiện trong một thời gian ngắn, đối tượng rộng nhưng đã đạt được những kết quả rõ nét; kết quả đã góp phần nâng cao đời sống của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, nhất là về điều kiện nhà ở và nước sinh hoạt, một số nơi cả đất ở và đất sản xuất. Về tổ chức thực hiện, các tỉnh đều thành lập ban chỉ đạo các cấp, mặc dù cán bộ thiếu, hầu hết phải kiêm nhiệm, khối lượng công việc nhiều, công trình dàn trải địa bàn rộng... nhưng đã có nhiều cố gắng để đạt kết quả như trên. Sự chỉ đạo và phối hợp thực hiện giữa các cấp tỉnh, huyện, xã và ban ngành ở một số địa phương khá chặt chẽ, sát sao, quyết liệt nên các địa phương đều sử dụng hết kinh phí được cấp. Việc thực hiện Quyết định 134 cũng tạo nên khí thế mới trong tinh thần của nhân dân ở các vùng nông thôn, xây dựng cuộc sống mới, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào giúp đỡ, tương thân, tương ái trong cộng đồng; thúc đẩy việc thực hiện cơ chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc. Đồng bào các dân tộc phấn khởi và tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia trực tiếp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của chính mình. Đối với cả 3 tỉnh trực tiếp giám sát đã đúng với chỉ đạo của Trung ương với phương châm: Nhân dân tự làm, Nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ, đảm bảo công khai, dân chủ, chưa phát hiện thất thoát và người dân đồng tình cao không có khiếu kiện; việc tham gia của Mặt trận và các đoàn thể, cộng đồng đã tác động tích cực đến kết quả và chất lượng các công trình. Đã lồng ghép các chương trình, dự án khác trên địa bàn và huy động nguồn lực cộng đồng như ở Hòa Bình, Thanh Hóa để xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt.

 Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại: Công tác xây dựng đề án ở các địa phương còn có thiếu sót, thông tin ban đầu chưa thực sự chính xác. Công tác điều tra, phân loại hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thuộc diện thụ hưởng theo Quyết định 134 chưa được hiểu đúng và thống nhất giữa các cấp, dẫn đến hiện tượng phát sinh thêm số hộ thụ hưởng chính sách, nhất là số hộ có nhu cầu về nhà ở, nước sinh hoạt. Kết quả thực hiện nội dung giải quyết đất sản xuất không đánh giá được cụ thể và nước sinh hoạt chỉ đạt 14 đến 33%. Công tác quy hoạch, sắp xếp các điểm dân cư chưa được quan tâm, nhà ở của dân được xây cất mới rất lộn xộn, nhiều nơi còn phân tán, sát đường Quốc lộ ảnh hưởng đến phát triển cơ sở hạ tầng sau này. Việc quản lý giải quyết hỗ trợ khai thác gỗ làm nhà theo quyết định số 03/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và PTNT chưa rõ nên tại cơ sở khó phân biệt đâu là gỗ tận dụng để thực hiện Quyết định 134, đâu là gỗ khai thác trái pháp luật. Trong Quyết định 134/2004/QĐ-TTg và Thông tư hướng dẫn 819/2004/TTLB vẫn còn một số điểm chưa rõ ràng làm cho việc thực hiện không thống nhất ở các địa phương; Chính sách thay thế chính sách hỗ trợ đất sản xuất đối với các địa phương không còn quĩ đất sản xuất nông, lâm nghiệp chậm được ban hành cũng đã ảnh hưởng đến việc thực hiện ở các địa phương. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 06 tháng 7 năm 2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 tiệu ha rừng, trong đó có qui định diện đối tượng thuộc Quyết định 134 khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng trên đất được giao được hưởng các quyền lợi hỗ trợ bằng tiền và lương thực nhưng đến nay 3 tỉnh vẫn chưa triển khai thực hiện nên không có báo cáo kết quả.

 Để có thể hòan thành cơ bản các mục tiêu của Quyết định 134 trong năm 2008, cần có một số giải pháp: Trên cơ sở nguồn vốn trung ương cấp năm 2008 các tỉnh lồng ghép các chương trình, dự án, các nguồn vốn để khẩn trương tổ chức thực hiện đồng thời tiếp tục triển khai quy họach sắp xếp lại dân cư, quy hoạch diện tích đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất để làm cơ sở triển khai đồng bộ các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Thực hiện các chương trình đào tạo, dạy nghề gắn với tạo điều kiện giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc, để vừa đa dạng hóa ngành nghề vừa giảm sức ép nhu cầu đất sản xuất nông nghiệp trong vùng dân tộc. Đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT sớm nghiên cứu sửa đổi quyết định số 03/2005/QĐ-BNN ngày 7/1/2005 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Quy định về khai thác gỗ để hỗ trợ làm nhà ở theo Quyết định 134 cho phù hợp với tình hình thực tế và hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện sâu sát hơn. Đồng thời khẩn trương chỉ đạo triển khai thực hiện Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 06 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho kết thúc và tổng kết tình hình thực hiện Quyết định 134 vào cuối năm 2008 và giao cho các Bộ ngành nghiên cứu chính sách thay thế Quyết định 134. Riêng với nội dung hỗ trợ đất sản xuất, nước sinh hoạt, nhà ở nên giao cho các địa phương chủ động quyết định chi hỗ trợ từ ngân sách địa phương và chủ động lồng ghép với các chương trình, dự án khác trên địa bàn để thực hiện. Đề nghị Đòan Đại biểu Quốc hội các tỉnh tiếp tục giám sát đánh giá kết quả thực hiện chính sách dân tộc để có những kiến nghị kịp thời nhằm thực hiện tốt hơn những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trên đất nước Việt Nam.
 

TS. Lê Hải Đường
Phó vụ trưởng Vụ Dân tộc (VPQH)

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,900,864


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs