Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/03/2005
Kỷ niệm 30 năm giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2005) : Đắc Lắc sau 30 năm giải phóng

Quang Huy


Sáng 10/3/2005, tại Quảng trường thành phố Buôn Ma Thuột diễn ra Lễ Mít tinh Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắc Lắc (10/3/1975-10/3/2005). Ảnh : TTXVN

Đắc Lắc nằm ở trung tâm cao nguyên Nam Trung bộ, có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, không chỉ đối với Tây Nguyên mà còn đối với cả nước. Tỉnh có diện tích tự nhiên trên 1.308.500 ha, dân số hiện nay gần 1,7 triệu người, trong đó gần 30% là đồng bào dân tộc thiểu số, 44 dân tộc anh em cùng chung sống chan hoà, đoàn kết. Phía Bắc tỉnh giáp với tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp với hai tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, phía Đông giáp với tỉnh Khánh Hoà, Phú Yên, phía Tây có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia. Tỉnh có độ cao trung bình 500 mét so với mặt nước biển, là vùng đất tương đối bằng phẳng, phía Đông có những đồng cỏ trải dài, phía Tây địa hình thấp dần, dòng sông Sêrêpốc chảy qua đây tạo thành một vùng lưu vực rộng hàng vạn ha đất đai màu mỡ. Đắc Lắc có hệ thống giao thông thuận lợi, có đường bộ lẫn đường hàng không. Đường quốc lộ 14 nối Đắc Lắc với các tỉnh phía Nam và phía Bắc, là con đường huyết mạch của tỉnh đi từ Plâyku qua trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột xuống Bình Phước, thành phố Hồ Chí Minh. Quốc lộ 26 nối thành phố Buôn Ma Thuột với các huyện Krông Pách, Ea Kar, Ma Đ’rắc đến tỉnh Khánh Hoà; quốc lộ 27 nối từ trung tâm tỉnh đến các huyện phía Nam và sang thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng)… Tỉnh có trên 700.000 ha đất đỏ bazan, chiếm 40% diện tích đất cùng loại của cả nước, thích hợp với các loại cây công nghiệp, cây lấy gỗ. Đặc biệt là cây cao su, cây cà phê thích nghi với điều kiện tự nhiên ở Đắc Lắc nên cho năng suất, chất lượng cao hơn so với các vùng khác. Tỉnh cũng có trên 1 triệu ha rừng nhiệt đới trữ lượng gỗ trên 100 triệu mét khối với nhiều loại gỗ quí. Rừng Đắc Lắc còn nhiều loại động, thực vật phong phú, đa dạng, nhiều chủng loại với số lượng lớn như voi, hổ, báo, trâu, bò rừng… Tỉnh có nhiều cảnh đẹp, di tích văn hoá, lịch sử, có nền văn hoá lâu đời, độc đáo, văn học dân gian phát triển sớm với nhiều thể loại; có những bản sử thi nổi tiếng như Trường ca Đam San, Xing Nhã… Nói đến Tây Nguyên, cái tên Buôn Ma Thuột đã trở nên thân quen, gần gũi, bởi đây là thành phố lớn của khu vực Tây Nguyên, trái tim của tỉnh Đắc Lắc. Theo tiến trình của cách mạng Việt Nam, Buôn Ma Thuột - Đắc Lắc ngày càng nổi tiếng hơn bởi hào khí của Cách mạng tháng Tám năm 1945, bởi tinh thần đấu tranh chống Mỹ- nguỵ trong những năm 1960, bởi chiến thắng Buôn Ma Thuột lẫy lừng 10/3/1975- nơi vinh dự được chọn “châm ngòi pháo đầu tiên cho Chiến dịch đại thắng mùa Xuân năm 1975”. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân Đắc Lắc đã đoàn kết bên nhau, ứng phó với thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, vượt qua mọi khó khăn thử thách để xây dựng cuộc sống. Từ một vùng đất hoang sơ, là nơi “rừng thiêng, nước độc”, trước ngày giải phóng thiếu cơm, thiếu muối, thiếu cả đường sá đi lại nhưng lại thừa bom đạn, ốm đau bệnh tật… nhưng với đức tính cần cù, lao động sáng tạo, tinh thần đoàn kết, tỉnh đã tạo ra một vùng đất phì nhiêu, màu mỡ, trở thành miền đất lành, trù phú, tươi đẹp. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Buôn Ma Thuột- Đắc Lắc cùng cả nước đi lên. Bước vào giai đoạn cách mạng mới, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức to lớn. Tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh trong những năm đầu giải phóng hết sức phức tạp. Bọn phản động do Mỹ cài lại, đặc biệt là tổ chức phản động Fulro tiếp tục chống phá cách mạng quyết liệt, tấn công vào trụ sở các xã, huyện, bắn giết cán bộ, đe doạ quần chúng, phục kích các đường giao thông, cướp của, giết người. Hậu quả chiến tranh để lại khá nặng nề, nạn đói, nạn thất nghiệp, bệnh tật, các tệ nạn xã hội tràn lan… Trước thực tế đó, Đảng bộ tỉnh đã quyết định phát động quần chúng, kết hợp với chính trị, quân sự để truy quét, tiêu diệt, làm tan rã lực lượng phản động; coi việc củng cố an ninh chính trị, trật tự xã hội, xây dựng chính quyền là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Tỉnh tập trung lực lượng cơ giới, huy động nhân công, thành lập hàng chục công trường khai hoang, làm thuỷ lợi, góp phần mở rộng diện tích trồng trọt. Ngay vụ mùa năm 1976, tỉnh đã gieo trồng được gần 100.000 ha, sản lượng lương thực đạt trên 118.000 tấn, tăng gần gấp đôi diện tích và 50.000 tấn lương thực so với năm 1975. Tỉnh còn trồng mới 53 ha rừng, khai thác gần 990.000 mét khối gỗ phục vụ dân sinh, nhất là nhà cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Các cơ sở vật chất kỹ thuật từng bước được đầu tư xây dựng, các nông, lâm trường của Nhà nước cũng bắt đầu hình thành. Đắc Lắc đã xây dựng 11 khu kinh tế mới, tiếp nhận gần 10 vạn người từ các tỉnh khác đến để bổ sung lao động nông nghiệp, đồng thời vận động định canh định cư cho 59.000 đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh. Các ngành kinh tế khác như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp, y tế, giáo dục… từng bước được xây dựng và phát triển, đã nhanh chóng thay đổi bộ mặt các thôn, buôn, góp phần ổn định đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Từ cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, đặc biệt là thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, Đắc Lắc nói chung, Buôn Ma Thuột nói riêng đã có những bước phát triển tiếp theo. Đặc biệt, ba năm 2001-2003, nền kinh tế của tỉnh đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 7,84% và năm 2004 là 10,43%, vượt 0,83% so kế hoạch (trong đó, ngành công nghiệp có mức tăng cao nhất từ trước đến nay, 30,11%, dịch vụ 17,04%). Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch đúng hướng. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp năm 2003 là 72,34%, năm 2004 giảm còn 70,25%; tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng năm 2003 là 9,21%, năm 2004 tăng lên 10,21%; tỷ trọng của ngành thương mại, dịch vụ năm 2003 là 18,45%, năm 2004 tăng lên 19,45%. Chủ động nắm vững tình hình, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nên các cấp uỷ Đảng, chính quyền đã xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển, các chỉ tiêu trong năm đều đạt cao. Nếu như năm 1975, tỉnh chỉ có 200 ha lúa nước, thì nay đã tăng lên gần 64.000 ha. Khi chưa tách tỉnh (1985), Đắc Lắc mới sản xuất được 209.300 tấn lương thực nhưng đến năm 2004, sau khi chia tách tỉnh đã tăng lên trên 630.000 tấn; diện tích cây cà phê từ 21.828 ha tăng lên trên 163.000 ha; diện tích cây cao su từ vài trăm ha già cỗi nay tăng lên trên 22.000ha; diện tích ngô trên 110.000 ha, chủ yếu là ngô lai; diện tích cây bông vải đạt trên 13.000 ha; chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh, tại địa phương đã hình thành nhiều trang trại chăn nuôi bò, lợn. Ngành nông, lâm nghiệp tiếp tục được đổi mới theo hướng đa dạng hoá sản phẩm gắn với thị trường. Trước đây sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn hầu như chưa có gì, thì đến năm 2004 tỉnh đã đạt giá trị sản xuất công nghiệp 1.002 tỷ đồng, trong đó khu vực công nghiệp quốc doanh 450 tỷ đồng, khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh đạt 543 tỷ đồng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có gần 100 nhà máy chế biến cà phê, cao su, thức ăn gia súc, chế biến gỗ xuất khẩu, máy nông cụ… chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao, tiêu thụ thị trường trong, ngoài tỉnh, có cả sản phẩm xuất khẩu. Nhiều nhà máy thuỷ điện đang được khởi công xây dựng, tất cả các xã đã có điện lưới quốc gia, tỉnh đầu tư nhiều tỷ đồng lắp đặt điện miễn phí cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Các ngành thương mại dịch vụ có bước phát triển nhanh, các dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp như sửa chữa cơ khí, vận chuyển, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, bảo vệ thực vật, khuyến nông… phát triển khá đa dạng, chất lượng dịch vụ về tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… được củng cố, mở rộng. Ngành du lịch tăng cả về lượng khách lẫn doanh thu, các tuyến du lịch hình thành rõ nét, như: khu vực du lịch Buôn Đôn, Hồ Lắc, thác Gia Long đang khai thác mạnh về du lịch sinh thái, du lịch văn hoá… Tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh năm sau cao hơn năm trước. Gần 100% số xã trong tỉnh đã có đường ôtô, đi về thuận tiện trong cả hai mùa mưa, nắng, các tuyến tỉnh lộ đã được nhựa hoá. Tất cả các xã đều lắp đặt hệ thống điện thoại, mức bình quân 100 người dân có trên 2 máy điện thoại. Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh năm 2004 đạt hơn 735,638 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có nhiều cố gắng, các chính sách y tế đối với người nghèo, người dân tộc thiểu số tại chỗ được tăng cường. 82% số trạm y tế có đủ điện, nước, thiết bị, trên 80% số trạm xá có bác sĩ… Công tác giáo dục đào tạo đã phát triển mạnh cả về số lượng, chất lượng. Năm học 2004-2005, số học sinh tăng 2% so với năm 2003, trong đó học sinh dân tộc thiểu số tăng 6,5%. Tỉnh đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục tiểu học và đang triển khai phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Mấy năm qua, tỉnh triển khai nhiều chương trình, dự án với nhiều nguồn vốn nhằm phát triển cơ cấu hạ tầng như: đường, trường, trạm, trung tâm cụm xã, nước sạch cho các xã đồng bào dân tộc thiểu số. Chương trình định canh định cư, xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai đều khắp và đạt được kết quả đáng khích lệ, số hộ nghèo giảm còn 11,07%. Tỉnh cũng đang triển khai mạnh công tác giải quyết đất ở, đất sản xuất, làm nhà ở cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội… được củng cố. Trong những thành tựu chung của tỉnh, thành phố Buôn Ma Thuột đã góp một phần to lớn. Sau 30 năm giải phóng, Buôn Ma Thuột đã có những bước phát triển vượt bậc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, quốc phòng, an ninh, từng bước phát huy tiềm năng về tài nguyên, đất đai, lao động trên bước đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xứng đáng với vị trí, vai trò và tầm vóc của một đô thị trung tâm Tây Nguyên. Đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắc Lắc, thành phố Buôn Ma Thuột được nâng cấp lên thành phố loại II. Quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc trong tỉnh Đắc Lắc từ nay đến năm 2010 phấn đấu trở thành một tỉnh có nền kinh tế phát triển trên mức trung bình của cả nước, bảo đảm tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, ổn định trên cơ sở phát huy nội lực, khơi dậy và khai thác mọi tiềm năng to lớn của địa phương, kết hợp với việc tranh thủ tối đa từ nguồn lực bên ngoài, tăng cường hợp tác đầu tư, từng bước mở rộng thị trường nước ngoài. Tỉnh tiếp tục phát triển mạnh nông sản xuất khẩu đi đôi với chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh các ngành công nghiệp, dịch vụ, trong đó trọng tâm là công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thuỷ điện, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế gắn với môi trường, thực hiện tốt các vấn đề xã hội… cùng với cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,450,498


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs