Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
VIETNAM IMAGE OF THE COMMTNITY OF 54 ETHNIC GROUPS

INTRODUCTION

Associate Professor - Doctor HOANG NAM

Vietnam is the homeland of many nationalities. All are descendants of Lac Long Quan and Au Co, hatching out of a hundred eggs, half of them following their mother to the mountain, the other half accompanying their father to the sea. They joined hands to build the nation from "Three mountains, four seas and the land mass", with endless forests and mountains, delta plains stretching as far as the eyes can see and the Eastern Sea rippling Is waves all the four seasons. It is a land stretching from the high peak of Lung Cu (north) to the hamlet of Rach Tau (south) and from the Truong Son Range (west) to the Truong Sa archipelago (east).

Living together in one country from time immemorial, all the nationalities develop a tradition of patriotism and unite and assist mutually in the conquest of nature and in social struggle, throughout the historic process of national construction, defence and development.

The history of the conquest of nature is really an epic, manifesting the creative innovation, vitally, determination to surmount all obstacles, adaptability to natural conditions of each ethnic group to produce, subsist and develop. People of various nationalities have found out different patterns to cope with nature, appropriate to specific natural geographical conditions.

In the lowland and mid-land regions, people work the ricefields to grow wet rice and build village culture on the background of communal houses, wells, banyan trees and green bamboo groves. The delta plain, agriculture, villages and hamlets constitute a source of inspiration for the making of multipanel robes, rose-coloured bodices and hats with fringed chin strap, for the composition of folk songs, love duets and folk verses familiar with specific regions.

In the mountain areas, people grow wet rice in valleys, develop terraced fields for dry crops, especially corn, and begin to plant perennial trees such as anise and cinnamon, in replacement of natural forests. They live in houses built on stilts, wear trousers or jupes and indigo vests with design motifs imitating wild flowers and beasts. It is their habit to drink can (bamboo pipes) wine from jars.

In the northern uplands and the Central Highlands, people clear and burn jungle patches as a method of farming in the pre-industry age. With a sub-tropical climate, cultivation is chiefly carried out in summer and autumn. For acclimatization and the raising of land utility rate, the highlanders from time immemorial have developed multi-cropping to generate further income and prevent soil erosion. With their dexterity and sense of aesthetics, the young women have made skins and vests with beautiful and colourful decorations and in a style convenient to farming work in terraced fields and to traved on hill slopes and mountain gorges. The generous forests and mountains and backward farming methods give rise to mythical rituals with propitious conditions for their development. Almost all regions in the Central Highlands hold buffalo-stabbing ceremonies in honour of Giang (Heaven) to pray for health, for the good of livestock breeding and for bumper crops. These regions harbour innumerable legendary stories and gallant chronicles, the value of which is comparable to those of China and India but their collection and study are still inadequate. These ethnic minorities are the creators of stone xylophones, T'rung and Krongput musical instruments, sets of gongs and group dances, rich of community colours.

Along the coastline from north to south, people live on fishing. In the morning fishing boats sail out to the open sea and in the evening return to the shore. The life here is bustling with activity as is in farming areas at harvest time.

Everywhere, man lives in harmony with nature and nature does not betray human efforts.

Lying in the Indochinese peninsular, the gateway to mainland and offshore Southeast Asia, Vietnam is the location of cultural intercourse in this region, with three major language families, I-e. Austro-Asian Language Family, Austronesian Language Family and Sino-Tibetan Language Family. The Vietnamese speak the languages of eight different groups. Of which the Viet-Muong Group includes four ethnic groups: the Chut, Kinh, Muong and Tho; the Tay-Thai Group includes eight ethnic groups: the Bo Y, Giay, Lao, Lu, Nung, San Chay, Tay and Thai; the Mon-Khmer Group includes 21 ethnic groups such as the Ba Na, Brau, Bru-Van Kieu, Cho-ro, Co, Co-ho, Co-tu, Gie-trieng, Hre, Khang, Khmer, Kho Mu, Ma, Mang, M'Nong, O-du, Ro-mam, Ta-oi, Xinh-mun, Xo-dang and Xtieng; the Mong-Dao Group includes the Dao, Mong and Pa Then; the Kadai Group includes the Co Lao, La Chi, La Ha and Pu Peo; the Malayo-Polynesian Group includes the Cham, Chu-ru, Ede, Gia-rai and Ra-glai; the Han Group includes the Hoa, Ngai and San Diu; the Tibeto-Burman Group includes the Gong, Ha Nhi, La Hu, Lo Lo, Phu La and Si-la.

Although they speak different languages, the ethnic groups live close to one another and so one group can know the language of others through everyday relations, and although they are involved in cultural exchange, they keep retaining the identity of their own culture. The diversity of the cultures of ethnic groups does not take them off the track of the common development of the nation, just as the peculiarity is in tune with the generality in the dual category of philosophy.

The Ho Chi Minh Era which started with the triumph of the 1945 August Revolution has brought about a great change in the life of the national community. The consistent policy put forth by the Party and State on nationalities boils down to equality, unity, mutual assistance and alliance in the building of the country for the prosperity of the people, for the might of the country, and for a just and a civilized society imbued with national identity.

The promulgation of this correct and innovative policy in the socio-economic field has yielded successes, very big, very new and very modern. The infrastructure, especially land communication, water resource and telecommunication, has reached the districts and gradually the villages and hamlets at a pace depending on the specific conditions of each region. As masters of the country, the ethnic groups are taking part in State organs of authority at an increasing rate. The Party and the State pay concern to the training of scientific and technical workers. The number of cadres of ethnic groups possessing university or higher degree is on the increase. The treasure of traditional culture and art of various ethnic groups has been collected, preserved, studied and promoted.

As a result of the successful promulgation of the Party policy on nationalities, people of various nationalities who have been working together in the cause of national construction and defense are strengthening their solidarity still further for the sake of national development. The achievements as mentioned above constitute the solid foundation for the consolidation of the block of great national union, for the improvement of the people's level of education and their living standards and for the advancement of all nationalities.

 

Order number

Group

Primary names

Other names

Local groups

Population

Total investigation
(1.4.1999)

Estimation
(1.7.2003)

1

Băh nar

Ba Na

BơNâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông

Rơ Ngao, Rơ Lơng (Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar, Krem

174.456

190.259

2

Bố y

Bố Y

Chủng Chá, Trọng Gia...

Bố Y và Tu Dí

1.864

2059

3

Brâu

 

Brao

 

313

350

4

Bru-Vân Kiều

Bru

Bru, Vân Kiều

Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong

55.559

62.954

5

Chăm (chàm)

 

Chàm, Chiêm, Chiêm thành, Chăm Pa, Hời...

Chăm Hroi, Chăm Pông, Chà Và Ku, Chăm Châu Đốc

132.873

148.021

6

Chơ ro

 

Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng

 

22.567

26.455

7

Chu ru

 

Chơ Ru, Kru, Thượng

 

14.978

16.972

8

Chứt

Chứt

Rục, Arem, Sách.

Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng

3.829

3.787

9

Co

Cor, Col

Cua, Trầu

 

27.766

29.771

10

Cống

Xám Khống, Phuy A

   

1.676

1.859

11

Cơ ho

Cơ Ho

 

Xrê, Nộp (Tu Nốp), Cơ Dòn, Chil, Lát (Lách), Tơ Ring.

128.723

145.857

12

Cơ lao

Cờ Lao

Tứ Đư, Ho Ki, Voa Đề.

Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ

1.865

2.034

13

Cơ tu

Cơ Tu

Ca Tu, Ka Tu

 

50.458

56.690

14

Dao

Kìm Miền, Kìm Mùn

Mán

Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, DaoTiền, Dao Quần trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn

620.538

685.432

15

Ê đê

Anăk Ê Đê

Anăk Ê Đê, Ra Đê, Ê Đê-Êgar, Đê

Kpă, Adham, Krung, Mđhu, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, arul, Hwing, Ktlê, Êpan

270.348

306.333

16

Giáy

Giáy

Nhắng, Giảng

 

49.098

54.002

17 Gia Lai

Gia Rai

Giơ Ray, Chơ Ray

Chor, Hđrung (gồm cả Hbau, Chor), Aráp, Mthur, Tơbuân

317.557

350.766

18

Giẻ-Triêng

Gié, Triêng, Ve, Bnoong

Cà Tang, Giang Rẫy

Gié (Giẻ),Triêng,Ve, Bnoong (Mnoong)

30.243

31.343

19

Hà Nhì

Hà Nhì Già

U Ní, Xá U Ní

Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì Đen

17.535

 

19.954

20

 

Hoa (Hán)

 

 

Khách, Hán, Tàu

 

Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thảng Nhằm, Minh Hương, Hẹ...

862.371

 

913.248

 

21

H'rê

Hrê

Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Luỹ, Sơn Phòng, Đá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Chòm, Rê, Man Thạch Bích.

 

113.111

 

120.251

 

22

HMông (Mèo)

Hmông, Na miẻo

Mẹo, Mèo, Miếu Ha, Mán Trắng

Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na miẻo

787.604

 

896.239
23

Kinh (Việt)

 

Kinh

 

65.795.718

69.356.969

24

Kháng

Mơ Kháng

Háng, Brển, Xá

Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bủ Háng, Ma Háng Bén, Bủ Háng Cọi

10.272

 

15.213

 

25

Khmer

Khmer

Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khmer K'rôm

 

1.055.174

 

1.112.286

 

26

Khơ mú

Kmụ, Kưm Mụ

Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Măng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh

 

56.542

 

62.721

 

27

La Chí

Cù Tê

Thổ Đen, Mán, Xá

 

10.765

12.095

28

La Ha

La Ha, Klá Plạo

Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hả, Pụa

La Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha nước (La Ha ủng)

 

5.686

 

6.388

 

29

La Hủ

La Hủ

Xá lá vàng, Cò Xung, Khù Sung, Kha Quy, Cọ Sọ, Nê Thú

La hủ na (đen), La-hủ sư (vàng) và La-hủ phung (trắng)

6.874

 

7.561

 

30 Lào Thay, Thay Duồn, Thay Nhuồn Phu Thay, Phu Lào Lào Bốc (Lào Cạn), Lào Nọi (Lào Nhỏ) 11.611 12.379
31

Lô Lô

Lô Lô

Mùn Di, Di, Màn Di, La Ha, Qua La, Ô man, Lu Lộc Màn

Lô Lô hoa, Lô Lô đen

 

3.307

 

3.327

 

32

Lự

Lừ, Thay, Thay Lừ.

Phù Lừ, Nhuồn, Duồn

Lự Đen (Lự Đăm), Lự Trắng (ở Trung Quốc)

4.964

5.553

33

Mạ

Mạ

Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ

Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung

33.338

36.824

34

Mảng

Mảng

Mảng Ư, Xá Mảng, Niểng O, Xá Bá O

Mảng Gứng, Mảng Lệ

2.663

2.634

35 Mường

Mol (Mon, Moan, Mual)

 

Ao Tá (Âu Tá), Bi

1.137.515

1.230.054

36

Mnông

Mnông

 

 

Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Đíp, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Đâng, Mnông Bu Đêh...

92.451

 

104.312

 

37

Ngái

Sán Ngải

Ngái Hắc Cá, Ngái Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đản, Lê, Xuyến

 

4.841

 

7.386

 

38

Nùng

Nồng

 

Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín

856.412

 

914.350

 

39 Ơ đu

Ơ Đu, I Đu

Tày Hạt

 

301

370

40

Pà Thẻn

Pà Hưng

Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Đỏ, Bát tiên tộc...

 

5.569

6.529

 

41

Phù Lá

Lao Va Xơ, Bồ Khô Pạ, Phù Lá

Xá Phó, Cần Thin

 

Phù Lá Lão-Bồ Khô Pạ, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán.

9.046

 

8.947

42

Pu Péo

Kabeo

La Quả, Penti Lô Lô

 

705

900

43

Răglai

   

Rai, Hoang, La Oang

96.931

108.442

44

Rơ-măm

     

352

418

45

Sán Chay (Cao lan-Sán chỉ)

Sán Chay

 

Hờn Bán, Chùng, Trại...

Cao Lan, Sán Chỉ

 

147.315

 

162.031

 

46

Sán Dìu

San Déo Nhín ( Sơn Dao Nhân)

Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc, Mán Váy xẻ

 

126.237

 

140.629

 

47

Si La

Cù Dề Sừ

Kha Pẻ

 

840

1.006

48

Tày

 

Thổ

Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí.

1.477.514

1.597.712

49

Tà ôi

 

Tôi Ôi, Pa Cô, Tà Uốt, Kan Tua, Pa Hi ...

Tà Ôi, Pa Cô, Pa Hi

 

34.960

 

38.946

 

50

Thái

Tay, Thay

Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tay Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ

Ngành Đen (Tay Đăm). Ngành Trắng (Tay Đón hoặc Khao)

1.328.725

 

1.449.084

 

51

Thổ

Thổ

Người Nhà làng. Mường, Con Kha, Xá Lá Vàng

Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Li Hà, Tày Poọng

68.394

 

76.191

 

52

Xinh mun

Xinh Mun

Puộc, Xá, Pnạ

Xinh Mun Dạ, Xinh Mun Nghẹt.

18.018

21.946

53

Xơ-đăng

Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ., Châu

Xê Đăng, Kmrâng, Con Lan, Brila.

 

Xơ Trng, Tơ Đrá, Mnâm. Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

 

127.148

 

140.445

54

Xtiêng

 

Xa Điêng, Xa Chiêng

Bù Lơ, Bù Đek (Bù Đêh), Bù Biêk.

66.788

74.402

 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,193,374


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs